|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 10-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Khúc Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng L, sinh ngày 07/02/1981 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng C và bà Đào Thị H; có vợ là Nguyễn Thị H1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 01/2009/HSST ngày 19/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 17/6/2024 đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, nên khoảng 10 giờ ngày 16/6/2024, Nguyễn Trọng L đi xe taxi đến khu vực phường T, quận H, thành phố Hải Phòng mua 02 ống ma túy đá của người phụ nữ không quen biết, với giá 400.000 đồng. Sau đó L đi xe taxi về nhà cất ma túy vào trong túi quần phía trước, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, L mang toàn bộ ma túy trên đến khu vực nghĩa trang thôn X, xã N, huyện K để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ, thu tại lòng bàn tay trái của L đang cầm 02 đoạn ống nhựa (dạng ống hút) cùng kích thước 3x0,5cm, được hàn kín 02 đầu, bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu M.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng L không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy.
Kết luận giám định số 777/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4 gam”
Số vật chứng còn lại gồm 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 0,3 gam ma túy loại Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật) có dấu niêm phong 777MT/PC09, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKSKT ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Nguyễn Trọng L mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 17/6/2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 0,3 gam ma túy loại Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật) có dấu niêm phong 777MT/PC09.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 16/6/2024, tại thôn X, xã N, huyện K, Nguyễn Trọng L đã có hành vi cất giấu trái phép 0,4 gam ma túy, loại Methamphetamine, để sử dụng thì bị bắt giữ. Như vậy, hành vi của Nguyễn Trọng L đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây nên tệ nạn ma túy. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng kết án tại bản án số 01/2009/HSST ngày 19/01/2009, xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 0,3 gam ma túy loại Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật) có dấu niêm phong 777MT/PC09 là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành; cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ của người phụ nữ bán ma túy cho L nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 17/6/2024.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 0,3 gam ma túy loại Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật) có dấu niêm phong 777MT/PC09 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
- - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Khúc Thị Minh | Phạm Thị Ngà |
| Đặng Thị Đôi |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngà |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng L
