Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-7-2024

V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Ông Nguyễn Thế Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

* Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1996

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ hiện nay: 514-0126 C, 2518 O-cho, thành phố T, tỉnh Mie, Japan (Nhật Bản).

Người đại diện theo ủy quyền để giải quyết về quan hệ tài sản của chị Vũ Thị H: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1966

+ Bà Tống Thanh N2, sinh năm 1974

Đều trú tại: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt: Anh V, bà N, ông N1; Chị H, bà N2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn - anh Phạm Văn V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: A và chị Vũ Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 21/11/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 5/2023, chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng anh vẫn thường xuyên liên lạc, hỏi han, quan tâm nhau nhưng đến tháng 9/2023 do anh phát hiện chị H không chung thủy nên vợ chồng đã xảy ra cãi vã, từ đó vợ chồng anh không còn quan tâm đến nhau và sống ly thân đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Vũ Thị H.

- Về quan hệ con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/11/2013 và cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 13/02/2020, hiện nay hai con chung đang ở với anh. Ly hôn anh đề nghị Tòa án giao 2 con chung là Phạm Tuấn K và Phạm Linh Đ cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/1 con/tháng; hai con là 3.000.000 đồng/tháng. Tại phiên hòa giải, anh có ý kiến anh và chị H tự thỏa thuận về số tiền cấp dưỡng nuôi con nhưng sau đó vợ chồng anh không tự thỏa thuận được số tiền cấp dưỡng nuôi con. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về quan hệ tài sản: Vợ chồng anh có tài sản chung là 01 căn nhà 01 tầng mái bằng diện tích 120,7m², trên thửa đất số 544, 545 tờ bản đồ số 03, tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Thửa đất trên đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ anh là ông Phạm Văn N1 và bà Tống Thanh N2. Bố mẹ anh chưa làm thủ tục tặng cho hay chuyển nhượng gì đối với thửa đất trên cho vợ chồng anh. Do nhu cầu nhà ở nên bố mẹ anh đã cho vợ chồng anh mượn đất để xây dựng nhà trên thửa đất này. Anh xác định căn nhà 01 tầng, 01 tum, sân lát gạch, tường rào, cổng, trụ cổng là tài sản chung của vợ chồng anh còn mái tôn là tài sản của bố mẹ anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết giao căn nhà 01 tầng mái bằng và các công trình trên thửa đất số 544, 545 tờ bản đồ số 03 tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình cho anh được sử dụng, anh sẽ thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho chị H theo quy định của pháp luật. Đối với thửa đất số 544, 545 và trị giá mái tôn anh và bố mẹ anh sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai; Đơn đề nghị về việc giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 25/3/2024; Bị đơn - chị Vũ Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 21/11/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận đến tháng 5/2023, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Sau khi đi xuất khẩu lao động, vợ chồng chị vẫn thường xuyên liên lạc, hỏi han, quan tâm nhau nhưng đến tháng 9/2023, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và do khoảng cách địa lý vợ chồng không thường xuyên liên lạc, quan tâm nhau. Vợ chồng chị đã nhiều lần liên lạc hòa giải mâu thuẫn nhưng không thành và sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Nay anh V xin ly hôn chị đồng ý.

- Về quan hệ con chung: Chị và anh V có 02 con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/11/2013 và cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 13/02/2020, do chị đang đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản nên các con tạm thời đang ở với anh V được ông bà nội, ngoại hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Phạm Tuấn K cho anh V nuôi dưỡng và giao cháu Phạm Linh Đ cho chị theo thỏa thuận giữa chị và anh V. Về cấp dưỡng, do mỗi người nuôi một con nên hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, do chị đang ở Nhật Bản không trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Linh Đ được nên chị ủy quyền cho mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị N thay mặt chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Linh Đ trong khoảng thời gian chị đi lao động ở nước ngoài. Chị và bà N tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị và anh V có tạo lập được khối tài sản chung là 01 căn nhà mái bằng có diện tích sàn 130m², trên thửa đất số 544 tờ bản đồ số 03 tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình trị giá khoảng 400.000.000 đồng trên thửa đất của bố mẹ chồng chị là ông Phạm Văn N1 và bà Tống Thanh N2. Ly hôn chị đề nghị Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng là căn nhà có diện tích sàn 130m², chị đề nghị giao căn nhà trên cho anh V được quản lý, sử dụng; anh V phải thanh toán cho chị ½ trị giá căn nhà là 200.000.000 đồng.

Do chị đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên chị không thể về Việt Nam tham gia tố tụng tại Toà án được, chị có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ và nhận các văn bản của Tòa án, chị ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N.

* Người đại diện theo ủy quyền của chị Vũ Thị H - Bà Nguyễn Thị N trình bày: Chị H nhất trí ly hôn anh Phạm Văn V. Chị H, anh V có 02 con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/11/2013 và cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 13/02/2020, hiện nay hai con chung đang ở với anh V. Ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao con chung là Phạm Tuấn K cho anh V nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Linh Đ cho chị H nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, chị H cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị H đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, không trực tiếp nuôi con được, chị H ủy quyền cho bà nuôi con giúp chị H trong thời gian chị H đi lao động ở nước ngoài, bà nhất trí.

Chị H và anh V có tài sản chung là căn nhà 01 tầng, 01 tum diện tích 120,7m², sân lát gạch, tường rào, cổng, trụ cổng, mái tôn trên thửa đất số 544, 545 tờ bản đồ số 03, tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Thửa đất trên đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Văn N1 và bà Tống Thanh N2. Việc anh V, ông N1, bà N2 cho rằng mái tôn là của ông N1, bà N2, bà không nhất trí. Phần mái tôn cũ là của ông N1 nhưng phần tuýp sắt có một phần của hai vợ chồng chị H, bà xác định mái tôn là tài sản của vợ chồng anh V và vợ chồng ông N1. Đề nghị Tòa án giao các công trình trên đất là tài sản chung của anh V, chị H cho anh V quản lý, sử dụng, anh V có nghĩa vụ thanh toán trị giá chênh lệch tài sản cho chị H theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ông Phạm Văn N1 và bà Tống Thanh N2 trình bày: Thửa đất số 544, 545 tờ bản đồ số 03, tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình mang tên ông Phạm Văn N1 và bà Tống Thanh N2. Ông bà chưa làm thủ tục tặng cho hay chuyển nhượng gì đối với thửa đất trên cho vợ chồng anh V. Do anh V, chị H kết hôn chưa có chỗ ở nên ông bà đã cho vợ chồng anh V, chị H mượn đất để xây dựng nhà ở là nhà 01 tầng mái bằng, diện tích 120,7m² trên thửa đất này. Ông bà có hỗ trợ vợ chồng anh V xây dựng căn nhà nhưng đến nay ông bà không yêu cầu anh V, chị H phải thanh toán gì cho ông bà. Ông bà xác định căn nhà, sân, tường, cổng, cánh cổng là tài sản chung của vợ chồng anh V, chị H; mái tôn là tài sản của vợ chồng ông bà. Nay anh V, chị H ly hôn ông bà đề nghị Tòa án giải quyết giao căn nhà 01 tầng và các công trình trên thửa đất số 544, 545 tờ bản đồ số 03 cho anh V quản lý, sử dụng, anh V sẽ thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho chị H theo quy định của pháp luật. Đối với thửa đất số 544, 545, ông bà sẽ tự thỏa thuận giải quyết với anh V, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 14/6/2024 thể hiện: Anh V và chị H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 21/11/2013, thời điểm đăng ký kết hôn chị H đã tròn 17 tuổi, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Nữ từ sau ngày tròn 17 tuổi trở lên có thể thực hiện quyền kết hôn”. Ủy ban nhân dân xã V làm thủ tục chứng nhận kết hôn cho anh V và chị H là đúng quy định. Anh V và chị H có 02 con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/11/2013 và cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 13/02/2020. Về quan hệ hôn nhân và quan hệ con chung của anh V và chị H đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.

Về tài sản chung của anh V và chị H: Theo anh V, chị H khai tài sản chung của vợ chồng anh V là công trình nhà 01 tầng trên diện tích đất tại thửa 544, thực tế công trình nhà nằm trên thửa đất 545 và một phần diện tích trên thửa 544, hai thửa đất trên đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Văn N1.

* Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 14/6/2024 thể hiện: Nhà 01 tầng xây gạch chỉ mái bằng tường 220 kết cấu khung chịu lực có công trình phụ khép kín, xây dựng năm 2019 trị giá 410.869.655 đồng. Lợp mái che tường bằng tôn xốp vì kèo thép diện tích 65,2m² trị giá 6.706.889 đồng. Sân lát gạch lá nem diện tích 65,2m² trị giá 7.773.763 đồng. Tường rào trị giá 955.697 đồng. Hai trụ cổng trị giá 1.156.862 đồng. Hai cánh cổng trị giá 4.442.700 đồng. Tổng giá trị tài sản tranh chấp: 431.905.566 đồng.

* Tại phiên tòa:

- Anh Phạm Văn V trình bày: Anh giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn chị Vũ Thị H. Hiện nay, chị H đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Trường hợp Tòa án giao con chung là cháu Đ cho chị H nuôi dưỡng thì chị H không thể trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ được. Chị H ủy quyền cho mẹ là bà Nguyễn Thị N nuôi con giúp chị H trong thời gian chị H ở nước ngoài anh không nhất trí, việc nuôi con là nghĩa vụ của bố mẹ, ông bà chỉ hỗ trợ trông nom các cháu. Hiện nay các con cũng đang ở với anh, để tạo điều kiện có cuộc sống ổn định cho các con, anh đề nghị Tòa án giao con chung là cháu K và cháu Đ cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Sau này chị H về Việt Nam, có thể trực tiếp nuôi con thì anh và chị H sẽ thỏa thuận sau. Anh yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Anh đề nghị giao tài sản chung của vợ chồng là căn nhà 01 tầng, 01 tum, sân lát gạch, tường rào, cổng, trụ cổng cho anh sở hữu và thanh toán ½ giá trị tài sản cho chị H. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản anh nhất trí thanh toán cho chị H 3.500.000 đồng.

- Bà Nguyễn Thị N trình bày: Chị H vẫn giữ nguyên quan điểm nhất trí ly hôn anh V và đề nghị Tòa án xem xét giao cháu Phạm Tuấn K cho anh V nuôi dưỡng và giao cháu Phạm Linh Đ cho chị H nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau. Tài sản chung của anh V, chị H là căn nhà 01 tầng, 01 tum, sân lát gạch, tường rào, cổng, trụ cổng, chị H nhất trí giao toàn bộ tài sản trên cho anh V sử dụng, anh V phải thanh toán cho chị H ½ giá trị tài sản trên. Chị H nhất trí không yêu cầu anh V thanh toán phần mái tôn.

- Ông Phạm Văn N1 trình bày: Thửa đất số 544, 545 tờ bản đồ số 03 tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Tống Thanh N2, các công trình trên đất gồm căn nhà 01 tầng, 01 tum, sân lát gạch, tường rào, cổng, trụ cổng là tài sản chung của anh V, chị H, mái tôn là của vợ chồng ông. Vợ chồng ông đề nghị Tòa án giao toàn bộ các công trình trên đất cho anh V sử dụng, thửa đất và phần mái tôn ông bà và anh V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn V được ly hôn chị Vũ Thị H. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/11/2013 và cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 13/02/2020 cho anh Phạm Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.725.000 đồng/1 con/tháng, hai con là 3.450.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Giao cho anh Phạm Văn V được sở hữu các công trình xây dựng trên thửa đất số 544, 545, tờ bản đồ số 03, thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Anh V có trách nhiệm thanh toán cho chị Vũ Thị H ½ trị giá tài sản. Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng: Bị đơn chị Vũ Thị H ở nước ngoài (Nhật Bản), căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Chị H, bà N2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và bà N2.

* Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Phạm Văn V và chị Vũ Thị H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/11/2013 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình được xác định là hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Lời khai của anh V và chị H đều thể hiện mâu thuẫn giữa anh V và chị H là có thật, tình cảm vợ chồng không còn, anh V xin ly hôn, chị H đồng ý. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh V và chị H không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh V và chị H ly hôn là phù hợp.

[2] Về con chung:

[2.1] Anh V và chị H có 02 con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/11/2013 và cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 13/02/2020. Xét thấy anh V đang là người trực tiếp nuôi dưỡng con K và con Đ, anh V đề nghị giao cả hai con chung cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và yêu cầu chị H cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Chị H đề nghị giao cháu K cho anh V và giao cháu Đ cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Trong thời gian chị H đi nước ngoài, chị H ủy quyền cho mẹ là bà N giúp chị trông nom, chăm sóc cháu Đ. Cháu K có nguyện vọng muốn được ở với bố. Xét thấy, con chung phải do bố hoặc mẹ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng mới đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Đ nhưng hiện nay chị H đang ở nước ngoài nên không có điều kiện chăm sóc cho cháu, trong khi cháu Đ còn rất nhỏ, cần sự quan tâm của cha mẹ. Vì vậy, căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình cần giao cả 02 con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng.

[2.2] Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh V và chị H không thỏa thuận được mức cấp dưỡng nuôi con, căn cứ Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2, 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và Gia đình quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.”. Căn cứ Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động quy định huyện V thuộc vùng IV, lương tối thiểu theo tháng là 3.450.000 đồng. Từ những căn cứ trên, chị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.725.000 đồng/1 con/tháng, hai con là 3.450.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận, anh V được sở hữu các công trình xây dựng trên thửa đất số 544, 545 bao gồm: Nhà 01 tầng xây gạch chỉ mái bằng tường 220 kết cấu khung chịu lực có công trình phụ khép kín, xây dựng năm 2019, có giá trị 410.869.655 đồng. Lợp mái che tường bằng tôn xốp vì kèo thép diện tích 65,2m² có giá trị 6.706.889 đồng. Sân lát gạch lá nem diện tích 65,2m² có giá trị 7.773.763 đồng. Tường rào có giá trị 955.697 đồng. Hai trụ cổng có giá trị 1.156.862 đồng. Hai cánh cổng có giá trị 4.442.700 đồng. Trong đó, L mái che tường bằng tôn xốp vì kèo thép diện tích 65,2m² có giá trị 6.706.889 đồng là tài sản của ông Phạm Văn N1 và bà Tống Thanh N2, ông N1, bà N2 đề nghị giao toàn bộ phần mái tôn cho anh V quản lý và không yêu cầu anh V thanh toán tiền giá trị. Tài sản chung của vợ chồng chị H là 425.198.677 đồng. Toàn bộ tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên công sức đóng góp của 02 vợ chồng là ngang nhau. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là phù hợp pháp luật nên cần căn cứ Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cho anh V được quyền sử dụng toàn bộ nhà và các công trình trên đất, anh V có nghĩa vụ thanh toán cho chị H ½ giá trị tài sản chung vợ chồng.

[4] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản mà chị H đã thanh toán là 7.000.000 đồng, anh V, chị H mỗi người phải chịu 3.500.000 đồng. Anh V phải hoàn trả cho chị H số tiền chi phí mà anh V phải chịu theo quy định tại Điều 157, 158, 164, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về án phí: Anh Phạm Văn V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, án phí chia tài sản chung. Chị Vũ Thị H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản chung theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, khoản 1 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn V được ly hôn chị Vũ Thị H.

2. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn V trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/11/2013 và cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 13/02/2020. Chị Vũ Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 1.725.000 đồng/1 con/tháng; hai con là 3.450.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Hai bên có quyền và nghĩa vụ chăm sóc con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Công nhận thỏa thuận của các đương sự:

Anh Phạm Văn V được sở hữu các tài sản xây dựng trên thửa đất số 544, 545, tờ bản đồ số 03 thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình gồm: Lợp mái che tường bằng tôn xốp vì kèo thép diện tích 65,2m² có giá trị 6.706.889 đồng. Sân lát gạch lá nem diện tích 65,2m² có giá trị 7.773.763 đồng. Tường rào có giá trị 955.697 đồng. Hai trụ cổng có giá trị 1.156.862 đồng. Hai cánh cổng có giá trị 4.442.700 đồng. Tổng giá trị tài sản là 431.905.566 đồng.

Anh Phạm Văn V có trách nhiệm thanh toán cho chị Vũ Thị H số tiền 212.599.338 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

4.1. Anh Phạm Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, 10.630.000 đồng án phí chia tài sản. Đối trừ số tiền 300.000 đồng anh Phạm Văn V nộp theo biên lai số 0000066 ngày 28/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình anh V còn phải nộp 10.630.000 đồng.

4.2. Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con và 10.630.000 đồng án phí chia tài sản. Đối trừ số tiền chị H nộp tạm ứng án phí 10.000.000 đồng (do bà Nguyễn Thị N nộp thay) theo Biên lai số 0000158 ngày 11/4/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị H còn phải nộp 930.000 đồng.

5. Về chi phí tố tụng: Anh Phạm Văn V và chị Vũ Thị H mỗi người phải chịu 3.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Chị H đã nộp 7.000.000 đồng. Anh V có trách nhiệm trả cho chị H 3.500.000 đồng.

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, anh V, ông N1 có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, bà N2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Vũ Hội, h. Vũ Thư;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Ngọc Thành

Đã ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và chia tài sản chung của vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger