Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/DS-ST

Ngày: 09 – 9 – 2024.

“V/v tranh chấp: Hợp đồng cầm cố tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Trần Huy Tùng.
  • 2/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần S TIÊN CÓ NGAY.

Trụ sở chính: Số128, đường N, phường B, thành phố V, tỉnh N.

Đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT - Chức vụ: Giám đốc Công ty cổ phần S TIÊN CÓ NGAY.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lam T, sinh năm 1997. (Theo Quyết định số 447/2024/UQ-SVN ngày 01/02/2024) (Vắng mặt).

Địa chỉ liên hệ: Số D, đường L, phường C, thành phố S, tỉnh S.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Cẩm T1, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện T, tỉnh S.

Địa chỉ theo giấy đăng ký xe: Ấp G, thị trấn L, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 01/10/2022, bà Trần Thị Cẩm T1 có đến Chi nhánh Trần Đề của Công ty cổ phần S TIÊN CÓ NGAY (gọi tắt là Công ty S) tại địa chỉ: Ấp C, thị trấn T, tỉnh S, để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng số: TDM221001001NA17X được ký giữa các bên ngày 01/10/2022 thì bà T1 có ký hợp đồng cầm cố tài sản là: Một xe môtô hai bánh biển kiểm soát: 83P3-146.32; Loại xe Honda AirBlade màu đỏ; Số khung: 6307FZ671235; Số máy: JF63E1214901; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số: 130158, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2017. Để lấy số tiền là 15.400.000 đồng (Mười lăm triệu, bốn trăm nghìn đồng), thời hạn cầm cố là 12 tháng (Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 01/10/2023) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty S đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà T1.

Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty S có ký giấy cho bà T1 mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 01/10/2022 đến ngày 01/10/2023. Địa điểm trả xe tại Chi nhánh T2 Bà T1 có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: "Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận".

Quá trình trả nợ, từ ngày 01/10/2022 đến ngày 01/4/2023, bà T1 chỉ thanh toán cho Công ty S:

  • Tiền gốc: 7.334.000₫.
  • Tiền lãi: 818.460₫.
  • Phí mượn xe: 2.156.000₫.
  • Phí quản lý hồ sơ: 372.027₫.
  • Phí phạt nghĩa vụ thanh toán: 33.513₫.

Đến nay đã quá hạn hợp đồng nhưng bà T1 không trả nợ cho Công ty S và cũng không trả lại xe.

Nay Công ty cổ phần S TIÊN CÓ NGAY yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Buộc bà Trần Thị Cẩm T1 có nghĩa vụ hoàn trả số tiền:
    • + Gốc: 8.066.000₫.
    • + Lãi suất 1,1%/ tháng, tính từ ngày 02/4/2023 đến ngày Tòa án xét xử.
  • Sau khi bà Trần Thị Cẩm T1 thanh toán đủ tiền thì Công ty cổ phần S1 có ngay sẽ hoàn trả cho bà T1 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số: 130158, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2017.

Bị đơn bà Trần Thị Cẩm T1 vắng mặt:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo về việc thụ lý vụ án số 152/TB-TLVA ngày 05 tháng 7 năm 2024, tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Trần Thị Cẩm T1 nhưng bà T1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với bà T1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T1 đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt của bà T1, không tiến hành hòa giải được và bà T1 cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • Quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng cầm cố tài sản”.
  • Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của Công ty S vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn bà Trần Thị Cẩm T1 vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã xác định được như sau: Bà Trần Thị Cẩm T1 có cầm cố một xe môtô biển kiểm soát: 83 P3-146.32; Loại xe Honda AirBlade màu đỏ; Số khung: 6307FZ671235; Số máy: JF63E1214901; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số: 130158, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2017. Để vay số tiền là 15.400.000 đồng (Mười lăm triệu, bốn trăm nghìn đồng), thời hạn cầm cố là 12 tháng (Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 01/10/2023) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà T1.

[3] Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng cầm cố tài sản giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 309 Bộ luật dân sự. Về quá trình thực hiện hợp đồng: Công ty S đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bên nhận cầm cố được quy định tại Điều 313 Bộ luật dân sự. Còn bà Trần Thị Cẩm T1 sau khi nhận tiền đã không thực hiện đúng như đã thỏa thuận. Như vậy bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ của bên cầm cố được quy định tại Điều 311 Bộ luật dân sự.

[4] Tài liệu, chứng cứ chứng minh: Do bị đơn bà T1 vắng mặt tại phiên tòa nên không thể đối chất giữa hai bên. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ theo luật định nhưng phía bà T1 không phản đối những tài liệu, chứng cứ do phía Công ty S đưa ra do đó Công ty S không phải chứng minh những tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Đối với yêu cầu tính lãi, cần xác định số tiền lãi như sau: Hai bên thỏa thuận lãi suất 1,1%/tháng phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên quá trình thực hiện hợp đồng bà T1 đã trả các khoản gồm: Phí mượn xe: 2.156.000đ; Phí quản lý hồ sơ: 372.027đ; Phí phạt nghĩa vụ thanh toán: 33.513đ. Xét thấy các khoản phí này không phù hợp theo quy định pháp luật về Hợp đồng cầm cố tài sản. Do đó các khoản này cần tính vào số tiền lãi mà bà T1 đã đóng. Như vậy kể từ khi vay đến ngày 01/4/2023, bà T1 đã thanh toán số tiền gốc là 7.334.000đ. Còn nợ lại 8.066.000đ. Số tiền đã đóng 3.380.000đ. Như vậy số tiền lãi bà T1 phải thanh toán được tính cụ thể như sau:

  • Từ ngày 01/10/2022 đến 01/4/2023: 15.400.000₫ x 1,1%/tháng x 06 tháng = 1.016.400₫.
  • Từ ngày 01/4/2023 đến 09/9/2024: 8.066.000₫ x 1,1%/tháng x 17 tháng + 08 ngày = 1.532.000₫.
  • Cộng hai khoản lãi: 1.016.400₫ + 1.532.000₫ = 2.548.400₫.
  • Số tiền lãi đã đóng thừa: 3.380.000₫ - 2.548.400₫ = 831.600₫ được trừ vào số tiền gốc.

Như vậy Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn chỉ buộc bà T1 phải thanh toán với số tiền là: 8.066.000₫ - 831.600₫ = 7.234.400₫ (Bảy triệu, hai trăm ba mươi bốn nghìn, bốn trăm đồng).

[6] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí theo khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 309, Điều 311, Điều 313, Điều 468 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S TIÊN CÓ NGAY.
  2. Buộc bà Trần Thị Cẩm T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty cổ phần S TIÊN CÓ NGAY số tiền 7.234.400₫ (Bảy triệu, hai trăm ba mươi bốn nghìn, bốn trăm đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty S cho đến khi thi hành án xong đối với khoản tiền phải trả mà bà Trần Thị Cẩm T1 chậm trả tiền thì bà T1 phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Trần Thị Cẩm T1 phải nộp 361.720₫ (Ba trăm mười sáu mươi mốt nghìn, bảy trăm hai mươi đồng) tiền án phí.
    • - Công ty cổ phần S TIÊN CÓ NGAY phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận. Công ty được khấu trừ 358.000₫ (Ba trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004301 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy Công ty được nhận lại số tiền thừa là 58.000đ (Năm mươi tám nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THA huyện Trần Đề;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 61/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty S yêu cầu bà T thanh toán số tiền 8.066.000đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger