Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:61/2024/HS-ST

Ngày: 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Vũ Huy Hùng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Xuyến và bà Nguyễn Thị Thương – Giảng viên môn Tâm lý - Giáo dục.
  • Thư ký phiên toà: bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai H - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Vũ Anh T, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 13/10/2005 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ B, khu P, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quang Á và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 14/9/2022 bị Toà án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 22/3/2023 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 12/02/2024 hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên toà.
  2. Họ và tên: Phạm Quốc Đ, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 05/10/2005 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ B, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: sinh viên trường Cao đẳng C; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc S và bà Phạm Thị H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 12/02/2024 hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên toà.
  3. Họ và tên: Nguyễn Đức T2, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 17/8/2005 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ D, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Vũ Thị T3; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 12/02/2024 hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: anh Phạm Duy N, sinh ngày: 22/12/2007; đại diện hợp pháp cho anh N là bà Cao Thị T4 (mẹ đẻ anh N); cùng địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị H1 và ông Phạm Ngọc S; địa chỉ: tổ B, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Nhật Bảo M, đại diện hợp pháp cho anh M: ông Nguyễn Quang H3, vắng mặt.
  2. Anh Phạm Quốc V, đại diện hợp pháp cho anh V: ông Phạm Văn T5, vắng mặt.
  3. Anh Dư Thành N1, đại diện hợp pháp cho anh N1: bà Nguyễn Thị Kim S1, vắng mặt.
  4. Anh Lê Hồng S2, đại diện hợp pháp cho anh S2: bà Lê Thanh P, vắng mặt.
  5. Anh Hoàng Minh H4, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/02/2024 (tức ngày 01/01 tết âm lịch) Vũ Anh T, Nguyễn Đức T2, Phạm Quốc Đ cùng nhóm bạn đều trú tại thành phố U gồm Dư Thành N1, Nguyễn Hải T6, Lê Hồng S2 (đều sinh năm 2006), Hoàng Minh H4, Vũ Đức T7 (đều sinh năm 2005), Nguyễn Thái H5 (sinh năm 2003) đi chùa B chơi đêm giao thừa. Trước khi đến chùa, cả nhóm hẹn tập trung tại cầu B, thuộc phường Q, thành phố U. Tại điểm hẹn cầu B thì Đ, TT2 đi một xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát (BKS) 14AY – 052.64 do Đ điều khiển, T ngồi ở giữa, T2 ngồi sau cùng. Khi đi T cầm 01 dao bằng kim loại dài 46cm (loại dao mèo). T7 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đến đón S2 và N1. Khi đi S2 cũng mang theo 01 thanh kiếm dài khoảng 105cm sau đó đưa cho H4 với mục đích để phòng thân. Khoảng 01 giờ 30 phút cả nhóm di chuyển đến ngã tư giao nhau giữa đường T và đường L, Đ bảo với cả nhóm quay lại để đi đổ xăng. Trên đường quay lại, đi qua đoạn đường cách cổng chùa B khoảng 01km, thuộc khu E, phường Q, thành phố U thì nhóm của Đ gặp 01 nhóm thanh niên đi nhiều xe máy biển kiểm soát của thành phố Hải Phòng, trong đó có Phạm Duy N, Nguyễn Nhật Bảo M, Phạm Quốc V, Đinh Văn T8, Phạm Thành D, Phạm Ngọc V1, Nguyễn Phú Quốc K, Phạm Nguyễn Hoàng M1, Phạm Công V2, Nguyễn Hữu Hoàng T9 (đều sinh năm 2007), Phạm Minh T10 (sinh năm 2008) đều trú tại huyện T, thành phố Hải Phòng và một số thanh niên khác chưa xác định được tên tuổi (sau đây gọi tắt là nhóm thanh niên Hải Phòng) đi ngược chiều có hành động vẫy tay. Cho rằng nhóm này có hành động khiêu khích nên T nói với Đ quay xe lại đuổi theo, Đ liền quay xe đuổi theo nhóm thanh niên Hải Phòng. Đến đoạn đường cách cổng đá chùa B 250m thì Đ điều khiển xe áp sát một xe máy hiệu Honda Wave Alpha còn T giơ dao lên, vươn người chém một nhát về phía nhóm thanh niên Hải Phòng nhưng không trúng. Đ tiếp tục điều khiển tăng ga xe áp sát một xe mô tô khác hiệu Honda Wave Alpha do anh Phạm Duy N điều khiển chở anh Nguyễn Nhật Bảo M. Lúc này, T tiếp tục giơ dao chém về phía người anh M thì anh M né người tránh được, sống lưng dao văng trúng vào đầu anh N gây thương tích, T2 ngồi sau cũng rút dây thắt lưng đang đeo trên người quật về phía anh M, anh N nhưng không trúng ai. Nhóm thanh niên Hải Phòng điều khiển xe bỏ chạy vào đường L. Do Đ thấy nhóm thanh niên Hải Phòng đông người và chỉ có xe của Đ đuổi theo nên không đuổi nữa mà điều khiển xe quay lại. Khi vừa quay xe lại thì Đ bị một người trong nhóm thanh niên H7 (không xác định được ai) dùng kiếm chém 01 nhát vào tay trái gây sây sát da. Đ điều khiển xe chở T, T2 về quán H8 ở gần chợ T12 thì gặp nhóm bạn đi lúc ban đầu.

Đối với nhóm bạn đi xe máy ban đầu theo sau xe của Đ gồm S2, T7, H4, Dư Thành N1, H5, T10, khi thấy Đ điều khiển xe chở T2, T đuổi theo nhóm thanh niên Hải Phòng thì điều khiển xe máy chạy theo nhưng không đuổi kịp xe Đ nên không rõ sự việc diễn ra như thế nào. Sau đó, khi thấy Đ quay lại thì cả nhóm tập trung tại quán H8 để tiếp tục thống nhất đi lượn trên đường. Lúc này có thêm Nguyễn Đức M2, Nguyễn Quang V3 (đều sinh năm 2007, trú tại thành phố U) đi theo nhóm Đ, còn S2, T7, H5, T10 đi về nhà. Đ điều khiển xe chở T, T2 đi đến cây xăng T13 trên Quốc lộ A, thuộc phường P, thành phố U để đổ xăng, nhóm bạn còn lại gồm H4, Dư Thành N1, M2, V3 đi xe máy đến chân cầu Đ. Sau khi đổ xăng xong, Đ tiếp tục điều khiển xe máy đi về hướng cầu Đ thì nhìn thấy một số xe máy của nhóm thanh niên Hải Phòng nên Đ điều khiển xe đuổi theo xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS 15G1 – 833.65 do Phạm Công V2 điều khiển chở Phạm Ngọc V1, thấy xe của Đ đuổi thì hoảng sợ vứt xe ở đường rồi bỏ chạy trốn vào bụi cây ven đường. TT2 xuống xe dùng dao kim loại và gậy tre nhặt ở ven đường đập nhiều nhát vào xe máy gây hư hỏng phần vỏ yếm xe. Sau đó nhóm Đ, T, T2, N1, H4, M2, V2 giải tán đi về nhà.

Anh Phạm Duy N ngay sau khi về nhà thấy vết thương bị chém ở đầu gây thương tích nặng, chảy nhiều máu nên gia đình đưa anh N đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp thành phố H. Chiều ngày 10/02/2024, đại diện gia đình anh N đến Công an thành phố U trình báo sự việc như trên.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 99/KLTTCT-TTPY ngày 16/02/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận thương tích của anh Phạm Duy N:

  • - Vết thương thái dương đỉnh trái gây chấn thương sọ não, đã được phẫu thuật, hiện tại tỉnh Glasgow 15 điểm, tổn thương như sau:
    • + Vết thương và vết mổ mở rộng thái dương đỉnh trái dài 21cm: 02%;
    • + Tụ máu ngoài màng cứng thái dương đỉnh trái đã được phẫu thuật lấy máu tụ, tạm xếp tỷ lệ: 05%;
    • + Ổ khuyết xương thái dương đỉnh trái, kích thước khoảng (61x54)mm, đáy phập phồng được đo trên CT – Scanner sọ não của bệnh viện H, tạm xếp tỷ lệ: 31%.
  • - Sây sát da 1/3 giữa mặt sau cẳng chân trái kích thước (03x1,2)cm hiện đang đóng vảy màu nâu đen: 0,5%.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Duy N tại thời điểm giám định là 36% (ba mươi sáu phần trăm).

Kết luận khác: Cơ chế tổn thương: các tổn thương nêu trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Vết thương thái dương đỉnh trái, gãy lún xương sọ, tụ máu ngoài màng cứng nếu không được xử lý, cấp cứu thì có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 344/KLTTCT-TTPY ngày 23/4/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Duy N là 36% (Nội dung thương tích như Kết luận số: 99/KLTTCT-TTPY ngày 16/02/2024).

Kết luận khác: phần sống lưng dao là vật tày, gây ra thương tích với đặc điểm thương tích của vật tày, phù hợp với đặc điểm tổn thương nên có khả năng gây ra được thương tích của anh Phạm Duy N.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố U kết luận: giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn trắng đen, gắn biển số 15G1-833.65, xe bị hư hỏng do bị đập phá trị giá là 1.817.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 1056/CT-VKS ngày 05/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Vũ Anh T, Phạm Quốc ĐNguyễn Đức T2 về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự).

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố.

Bị hại anh Phạm Duy N vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai phù hợp với nội dung vụ án và lời khai của các bị cáo. Sau khi xảy ra vụ việc, 03 bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho anh N, anh N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều kiện, nguyên nhân phạm tội và hoàn cảnh, nhân thân của từng bị cáo. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ Anh T, Phạm Quốc ĐNguyễn Đức T2 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”; căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 BLHS; xử phạt Vũ Anh T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/02/2024; căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS; xử phạt Phạm Quốc Đ từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/02/2024; căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS; xử phạt Nguyễn Đức T2 từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/02/2024. Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra, nên không đề cập. Về vật chứng: đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại và 01 dây thắt lưng da; trả lại cho bà Phạm Thị H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 14AY-052.64.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng cả 03 bị cáo đều tỏ ra ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là cơ bản phù hợp với nhau, với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, với lời khai của bị hại anh Phạm Duy N và lời khai của những người làm chứng, với Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 99/KLTTCT-TTPY ngày 16/02/2024 và Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 344/KLTTCT-TTPY ngày 23/4/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y, phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 10/02/2024, tại đoạn đường vào chùa B, thuộc khu E, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Quốc Đ điều khiển xe mô tô chở Vũ Anh T ngồi giữa và Nguyễn Đức T2 ngồi sau đuổi theo xe mô tô của anh Phạm Duy N để T dùng dao bằng kim loại dài 46cm (loại dao mèo) chém làm anh N bị thương tích, tổn hại 36% sức khoẻ, mặc dù giữa anh N và nhóm của T, Đ, T2 không hề có mâu thuẫn gì. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, nên đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự).

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 đến 03 năm:

  • a, Dùng hung khí nguy hiểm...
  • i) Có tính chất côn đồ;...
  • 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: ...
  • c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

[3] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư. Mặc dù giữa các bị cáo và bị hại (anh N) không có mâu thuẫn gì nhưng cho rằng anh N cùng nhóm bạn có hành vi khiêu khích nên T đã bảo Đ điều khiển xe mô tô đuổi theo xe của anh N để T dùng dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém làm cho anh N bị tổn hại 36% sức khỏe. Vì vậy HĐXX sẽ xem xét, cân nhắc để quyết định mức hình phạt tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội của từng bị cáo.

* Xét về vai trò và nhân thân của các bị cáo thấy: Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc, câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo, cả ba bị cáo đều là người thực hành. Tuy nhiên T là người khởi xướng và trực tiếp cầm dao chém anh N nên T giữ vai trò đầu vụ. Đ là người tiếp nhận ý chí của T một cách tích cực, điều khiển xe mô tô chở TT2 đuổi theo xe anh N để T dùng dao chém anh N nên Đ xếp vai trò sau T, T2 là người dùng dây thắt lưng vụt về phía anh N nhưng không trúng nên T2 giữ vai trò sau cùng. Bị cáo T là người có nhân thân xấu đã bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý; các bị cáo ĐT2 là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.

- Tình tiết tăng nặng: bị cáo Vũ Anh T đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Phạm Quốc Đ, Nguyễn Đức T2 không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải. Sau khi phạm tội các bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú và bồi thường cho bị hại 176.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì sự hiếu thắng, đua đòi của tuổi trẻ, coi thường sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo T là người khởi xướng và trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh N. Mặc dù T đã bị kết án chưa được xoá án tích, điều này thể hiện sự côn đồ hung hãn nên phải có mức hình phạt cao nhất. Tiếp đến là Đ, người tiếp nhận ý chí của T một cách tích cực điều khiển xe mô tô đuổi theo xe của anh N để T dùng dao chém anh N nên Đ giữ vai trò thứ hai. Sau cùng là T2T2 chỉ là người ngồi sau xe do Đ điều khiển và dùng dây thắt lưng vụt về phía xe anh N nhưng không trúng ai. Xét thấy cần bắt các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo. Các bị cáo Phạm Quốc ĐNguyễn Đức T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm để các bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và lời luận tội, mức đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại 176.000.000 đồng, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại đã cam kết sẽ không khiếu nại, khiếu kiện, không có ý kiến gì về phần dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, nên HĐXX không xem xét, đề cập.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 con dao bằng kim loại dài 46cm, 01 dây thắt lưng da là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô BKS 14AY- 052.64 đứng tên trong giấy đăng ký xe là của Phạm Quốc Đ. Tuy nhiên giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo cũng như bà Phạm Thị H1 (mẹ đẻ bị cáo) đều khai nhận số tiền mua xe là do vợ chồng bà H1 bỏ tiền ra mua để gia đình sử dụng và chỉ nhờ con trai đứng tên trong giấy đăng ký xe chứ không phải là đã cho Đ chiếc xe trên. Vì vậy đề nghị HĐXX trả lại cho gia đình bà H1 chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại. Xét thấy bị cáo Đ tuổi còn trẻ chưa có việc làm, chưa có thu nhập, vẫn đang còn đi học không thể có tiền tự mua xe nên lời khai của bị cáo cũng như mẹ bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Các tình tiết khác trong vụ án: Đối với thương tích của Phạm Quốc Đ, do thương tích không đáng kể, Đ không yêu cầu, đề nghị gì, nên không đề cập.

Đối với hành vi của các bị cáo T2, T sử dụng dao, gậy tre đập vào xe mô tô BKS 15G1 – 833.65 nhưng hậu quả chưa đến mức xử lý hình sự, Công an thành phố U đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản nên không đề cập.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Vũ Anh T; khoản 1 Điều 54 đối với bị cáo Phạm Quốc Đ; khoản 2 Điều 54 đối với bị cáo Nguyễn Đức T2); Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Anh T, Phạm Quốc ĐNguyễn Đức T2 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Vũ Anh T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/02/2024.

    Xử phạt: Phạm Quốc Đ 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/02/2024.

    Xử phạt: Nguyễn Đức T2 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/02/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 46cm và 01 thắt lưng da màu đen; trả lại cho bà Phạm Thị H1 và ông Phạm Ngọc S 01 xe mô tô biển kiểm soát 14AY – 052.64.
  4. (Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
  6. Các bị cáo Vũ Anh T, Phạm Quốc ĐNguyễn Đức T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp Ngân sách Nhà nước.

  7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP Uông Bí;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP Uông Bí;
  • - Chi cục THADS thành phố Uông Bí;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Anh Tuấn cđp - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger