|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 8 năm 2024 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm;
Bà Bùi Thị Hảo.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T - sinh năm 1994
Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;
Bị đơn: Anh Đỗ Văn T1 - sinh năm 1991
HKTT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Hiện anh T1 đang ở nước ngoài.
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn là chị Vũ Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 06/01/2011 tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Thời gian sau đó, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và cách làm ăn kinh tế. Chị đã cố gắng khắc phục nhưng hai vợ chồng không thể hàn gắn được, hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1 để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh Đỗ Văn T1 có 02 con chung là cháu Đỗ Tiến T2, sinh ngày 19/6/2012 và cháu Đỗ Mạnh H, sinh ngày 24/12/2014. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Văn T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án: Ngày 18/6/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành gặp và làm với anh Đỗ Quốc T3 (anh trai ruột của anh T1), sinh năm 1988: TT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Tại buổi làm việc có sự tham gia chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương, anh T3 đã liên hệ qua điện thoại cho anh Đỗ Văn T1, anh T1 đã trực tiếp nói chuyện trao đổi với thẩm phán. Anh Tú thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T xin ly hôn anh T1 không đồng ý mong muốn xin được đoàn tụ để vợ chồng cùng nuôi dạy con chung.
Về con chung: Anh Tú cũng xác định vợ chồng có 02 con chung. Nếu chị T nhất quyết ly hôn, anh tôn trọng quyền quyết định của các con chung. Nguyện vọng của các cháu muốn ở với ai anh đồng ý, nếu chị T nuôi 02 con chung và không đề nghị anh cấp dưỡng tiền nuôi con chung anh đồng ý.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đề nghị tòa án giải quyết
Ngoài ra, hiện anh T1 đang làm ăn xa không thể về tham gia giải quyết vụ án được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh, các văn bản tố tụng của tòa án anh đề nghị gửi cho anh thông qua anh trai anh là Đỗ Quốc T3, sinh năm 1988: TT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Tiến T2 và cháu Đỗ Mạnh H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không đề nghị nên không giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là chị Vũ Thị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị ly hôn anh Đỗ Văn T1 có HKTT tại khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Anh Tú hiện đang ở nước ngoài, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
[2] Về trình tự thủ tục tố tụng:
Anh Đỗ Văn T1 hiện đang ở nước ngoài nhưng không có địa chỉ cụ thể nên Tòa án không thể tiến hành tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho anh T1 được. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T1 thông qua người thân của anh T1 là anh Đỗ Quốc T3 (anh trai ruột của anh T1). Anh T4 đồng ý nhận thay anh T1 các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết sẽ thông báo nội dung cho anh T1. Anh Tú đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T1 là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Đỗ Văn T1 đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1. Anh Tú vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Mặc dù, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T1 thông qua anh trai anh T1 là anh Đỗ Quốc T3 nhưng anh T1 vẫn không có mặt tại các buổi làm việc với Tòa án. Tuy nhiên, anh T1 đã thể hiện ý kiến của mình thông qua cuộc nói chuyện trực tiếp bằng điện thoại với tòa án, quan điểm của anh T1 mong vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con chung, nhưng phía chị T không đồng ý và nhất quyết xin ly hôn anh T1. Hội đồng xét xử thấy rằng chị T và anh T1 đã ly thân, vợ chồng sống xa nhau dẫn đến mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định cho chị T ly hôn anh T1.
Về con chung: Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định chị Vũ Thị T và anh Đỗ Văn T1 có 02 con chung là cháu Đỗ Tiến T2, sinh ngày 19/6/2012 và cháu Đỗ Mạnh H, sinh ngày 24/12/2014.
Xét thấy, anh T1 hiện đang ở nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, anh T1 có quan điểm tôn trọng quyền quyết định của các con. Cả hai cháu hiện đang sinh sống ổn định cùng mẹ, các cháu đều có ý kiến khi bố mẹ ly hôn muốn được ở với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của con chung, không làm xáo trộn cuộc sống của các cháu cũng như phù hợp với nguyện vọng của các cháu, cần giao cháu Đỗ Tiến T2 và cháu Đỗ Mạnh H cho chị Vũ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung, xét thấy tự nguyện của chị T phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận. Do vậy, anh Đỗ Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị T, anh T1 không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị T ly hôn anh Đỗ Văn T1.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Tiến T2, sinh ngày 19/6/2012 và cháu Đỗ Mạnh H, sinh ngày 24/12/2014 cho chị Vũ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi từng cháu thành niên, có khả năng lao động.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Biên lai số 0000263 ngày 02/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Anh Đỗ Văn T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Anh Đỗ Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Vũ Thị T.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị T - Đỗ Văn T1 - Tranh chấp hôn nhân và gia đình
