|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày: 09-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên (theo Quyết định phân công số 02/QĐ-VKSBP-P1 ngày 27/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước).
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: NGÔ THỊ THÙY D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1997; Tại: Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Tổ D, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Duy Q (đã chết) và bà Lê Thị Ú, sinh năm: 1968; Có chồng: Mai Văn C, sinh năm: 1996 và 01 con sinh năm 2018; Tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Trịnh Đình Q1, sinh năm 1966, Nơi cư trú: Khu phố X, phường T thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- + Ông Lê Thanh T, sinh năm 1975, Nơi cư trú: Khu phố X, phường T thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Thị T1, sinh năm 2006, Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B,tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hỷ T, sinh năm 1996, HKTT: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước sống chung như vợ chồng với Ngô Thị Thùy D tại phòng số 4, nhà trọ P1, đường số E, xã T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 25/11/2022, L rủ D lên tỉnh Bình Phước để L lấy tiền chuyển vào tài khoản của D, D đồng ý và đi với L. Sau đó L sử dụng xe ô tô 04 chỗ, màu trắng do L thuê, chở D đến tiệm điện thoại, cầm đồ Tùng Phụng trên đường Đ thuộc Khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (là nơi trước đó L đã vào nhờ chuyển tiền nhiều lần). Trên đường đi, D không thấy L ghé đâu lấy tiền nên khi đến tiệm cầm đồ Tùng P, D có hỏi L là tiền đâu mà chuyển thì L nói dùng tiền giả kêu người ta chuyển. Đến khoảng 18h30 ngày 25/11/2022 L và D đi đến tiệm cầm đồ Tùng Phụng, lúc này D ngồi ngoài xe ở ghế phụ (kế bên ghế tài xế) đợi còn L lấy 20.000.000 đồng tiền giả gồm các tờ mệnh giá 500.000 đồng trong túi L đeo trên người đi vào tiệm Tùng P gặp Thị T1, sinh năm 2006, HKTT: thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước là nhân viên của tiệm và đưa 20.000.000 đồng tiền giả trên cho Thị T1, yêu cầu Thị T1 chuyển 20.000.000đồng vào số tài khoản 144100565562 Ngân hàng A do Ngô Thị Thùy D đứng tên chủ tài khoản. Sau đó, L ra xe kêu D1 đưa 50.000 đồng để trả phí chuyển tiền, D đưa 50,000 đồng cho L đi vào lại tiệm đưa cho Thị T1. Sau khi nhận tiền của L, Thị T1 nhắn qua zalo cho chị Trịnh Đình Q1, là chủ tiệm (lúc này chị Q1 đang nấu ăn dưới bếp) với nội dung là kêu Q1 chuyển 20.000.000 đồng vào số tài khoản 1441005655062 Ngân hàng A, chủ tài khoản tên Ngô Thị Thùy D do có khách đưa 20.000.000 đồng tiền mặt yêu cầu chuyển tiền vào số tài khoản này. Trong quá trình đợi chuyển tiền vào tài khoản của D thì L có ra xe nói với D là chị chủ đang tắm đợi nhân viên kiểm tiền rồi chị chủ tắm xong chị chủ chuyển tiền. Được một lúc thì L ra xe chở D về lại TP ., lúc này tiền chưa vào tài khoản của D.
Sau khi L và D rời khỏi, Thị Thi kiểm tra lại tiền thấy nghi là tiền giả nên đã vò 01 tờ 500.000 đồng và thấy không bung ra lại, xác định đây là tiền giả, Thị T1 liền cầm tiền chạy xuống bếp và la lên “chị ơi từ từ chuyển khoản, tiền giả đó chị ơi”, Q1 nhận tiền Thị T1 đưa kiểm tra xác định đây là tiền giả nên chưa chuyển khoản vào tài khoản theo yêu cầu. Khoảng 18h45 cùng ngày, L có gọi điện lại cho Q1 bằng số 0389.719.446 và hỏi “chị ơi chụp cái bill chuyển qua cho em”, Q1 trả lời “chị chưa chuyển, em ghé tiệm đi rồi chị chuyển khoản cho”, Q1 chỉ nói vậy rồi cúp máy, không đề cập gì đến việc số tiền này là tiền giả. Sau đó, Q1 để tất cả số tiền này trên quầy giao dịch và gọi điện cho chồng là anh Lê Thanh T nói về sự việc này để anh T về giải quyết.
Khoảng 19h30 phút cùng ngày, L sử dụng số điện thoại 0389.719.xxx gọi đến số 033.549.6xxx của anh T và hỏi tại sao nhân viên của anh T đã nhận tiền nhưng không thực hiện chuyển tiền như L yêu cầu. Quá trình nói chuyện anh T có đề cập đến số tiền L đưa là tiền giả nhưng L nói đó là tiền thật và hẹn sẽ đến tiệm để lấy lại số tiền trên. Đến khoảng 20h50 ngày 25/11/2022, L dùng số điện thoại 0389.719.xxx nhắn tin vào số 033.549.6xxx của anh T với nội dung “Thôi có gì em xin lỗi anh nếu em biết thì em không vô tiệm anh! Em nghĩ nó là anh em nó không hại em như vậy để em nói với mấy an hem bắt nó sẽ còng cái đầu nó qua xin lỗi anh chứ giờ mà em vướng vào mấy cái chuyện này là bà già em giết em luôn có gì anh nói chị thông cảm giùm em nha có gì em bắt thằng đó lên xin lỗi anh có gì sáng mai cà phê rồi em kêu nó lên xin lỗi anh hồi nãy ông an hem đánh nó nó mới nhận chứ không thì nó không nhận rồi”. Sau đó, anh T không nhắn tin hay gọi điện gì cho L nữa mà đợi L đến để lấy số tiền 20.000.000 đồng giả của L nhưng L không đến.
Đến ngày 27/11/2022, L tiếp tục liên lạc với anh T với nội dung “anh nói đó là tiền giả thì để đó cho em, hai ba ngày sau em đến lấy lại” nhưng cũng không thấy L đến lấy số tiền này. Vì vậy, sáng ngày 05/01/2023 anh T đã chủ động đến Công an T2, tỉnh Bình Phước trình báo và giao nộp toàn bộ số tiền giả để phục vụ xác minh, làm rõ, còn 50.000 đồng tiền thật, Q1 cầm và đã sử dụng.
Ngoài ra, Ngô Thị Thùy D khai nhận thêm: Khoảng tháng 12/2022, L nói với D là có 01 người anh (không rõ nhân thân, lai lịch) mà Long quen khi đi tù trước đây, có nguồn tiền giả đưa cho L tiêu thụ, L cũng đã liên hệ được với người ở tỉnh Bình Thuận mua tiền giả và L rủ D đi Bình Thuận cùng L để bán, giao tiền giả, sẵn đi chơi luôn thì D đồng ý. Khoảng 18h00 – 19h00 cùng ngày, L sử dụng xe ô tô màu trắng (không rõ biển số xe) mà L nói với D là mượn của 01 người anh ở TP . đã để sẵn ở trước nhà trọ, chở D đi tỉnh Bình Thuận. Khoảng 05 – 06 tiếng đồng hồ sau, L chở D đến nơi giao dịch, bán tiền giả (do trời tối nên D không biết địa điểm đó là ở đâu của tỉnh Bình Thuận), L dừng xe bên đường và cầm bọc nilong đen đựng tiền giả xuống xe, D không biết trong bọc nilong đen có bao nhiêu tiền giả, D ngồi trên xe đợi L. D thấy L và người mua tiền giả của L đi đến 01 góc tối bên đường cách chỗ ô tô Long đậu khoảng 03 – 04 mét. Sau khi giao dịch bán tiền giả xong, L lên xe đưa cho D khoảng gần 5.000.000 đồng tiền thật là tiền bán tiền giả có được sau đó chở D quay lại TP
Quá trình điều tra rà soát xác định được đối tượng L tên thật Hỷ Thành L1, sinh năm 1996, HKTT: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước tuy nhiên L1 đã bỏ đi khỏi địa phương nên chưa tiến hành làm việc được.
Cơ quan ANĐT đã xác minh đối với số điện thoại 0389.719.xxx là số mà L1 sử dụng để nhắn tin cho chị Q1 và anh T xác định chủ thuê bao trên tên: Lâm Thị Yến N, sinh năm 2003, địa chỉ: N, N, Nam Định. Qua làm việc N khai từ trước đến nay không sử dụng số điện thoại trên.
Tiến hành trưng cầu giám định đoạn video có hình ảnh của đối tượng L1 và Ngô Thị Thùy D khi đến tiệm C1 để thực hiện hành vi phạm tội do Trịnh Đình Q1 cung cấp, Phòng K Công an tỉnh B xác định: “Không đủ cơ sở để xác định tập tin video gửi giám định có bị cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung nên không tiến hành giám định trích xuất hình ảnh thể hiện sự việc đối tượng đến, đưa tiền và rời đi”.
Tại bản Kết luận giám định số 163/KL-KTHS, ngày 10/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- + 03 (ba) tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng có số sê ri: HQ 18921299 gửi giám định ký hiệu A1-A3 là tiền giả, không phải do Ngân hàng N1 phát hành,
- + 10 (mười) tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng có số sê ri: FG 18921063 gửi giám định ký hiệu A4-A13 là tiền giả, không phải do Ngân hàng N1 phát hành,
- + 11 (mười một) tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng có số sê ri: DT 18423274 gửi giám định ký hiệu A14-A24 là tiền giả, không phải do Ngân hàng N1 phát hành,
- + 16 (mười sáu) tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng có số sê ri: BK 20367073 gửi giám định ký hiệu A25-A40 là tiền giả, không phải do Ngân hàng N1 phát hành.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSBP-P1 ngày 27/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố Ngô Thị Thùy D về tội “Lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật hình sự. Kèm theo Quyết định phân công Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án số 02/QĐ-VKSBP-P1 ngày 27/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự tuyên mức án đối với Ngô Thị Thùy D từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù;
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- -Buộc bà Trịnh Đình Q1 giao lại số tiền 50.000 đồng tiền phí chuyển tiền do L1 đưa cho bà Q1 để thu nộp Ngân sách nhà nước.
- -Tịch thu tiêu hủy 40 (bốn mươi) tờ tiền giả polyme mệnh giá 500.000 đồng có các ký hiệu sêri: 03 (ba) tờ có số sê ri: HQ 18921299, 10 (mười) tờ có số sê ri: FG 18921063, 11 (mười một) tờ có số sê ri: DT 18423274, 16 (mười sáu) tờ có số sê ri: BK 20367073.
- - Trả lại cho bị cáo D 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu đen đã cũ không lên nguồn, không kiểm tra được số máy và số IMEI thiết bị máy bên trong.
Bị cáo Ngô Thị Thùy D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát; không tranh luận; xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thị Thùy D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo D phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/11/2022 Ngô Thị Thùy D có hành vi giúp sức cho H Thành Long lưu hành 20.000.000 đồng tiền giả gồm 40 tờ tiền polymer mệnh giá 500.000đồng tại tiệm C1, thuộc khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. D đưa cho L1 50.000đồng tiền thật để trả tiền phí chuyển tiền và đưa số tài khoản 1441005655062 của D tại ngân hàng A cho L1 sử dụng với mục đích nhận tiền từ việc lưu hành tiền giả.
[3] Hành vi của bị cáo Ngô Thị Thùy D thực hiện là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý tài chính (tiền tệ) của Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ Hỷ Thành L1 mang tiền giả đi lưu hành nhưng vẫn đồng tình, tiếp tay cho L1 thực hiện và đưa tiền thật cho L1 trả phí chuyển tiền, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lưu hành tiền giả” được quy định tại Điều 207 Bộ luật Hình sự.
Số tiền bị cáo lưu hành có giá trị tương ứng 20.000.000 đồng nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ do hành vi, hậu quả bị cáo thực hiện cần xử mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi lượng hình.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.
[5] Đối với lời khai nhận của Ngô Thị Thùy D trong quá trình điều tra và tại phiên tòa khai: Vào tháng 12/2022 đi cùng Hỷ Thành L1 đến tỉnh Bình Thuận để bán, giao tiền giả, L1 là người trực tiếp giao dịch nên bị cáo không biết rõ số tiền giả bao nhiêu, bán cho ai, địa điểm cụ thể, sau khi giao dịch bán tiền giả xong L1 đưa cho D khoảng 5.000.000 đồng tiền thật là tiền có được từ việc bán tiền giả để đếm, sau đó D bỏ lại tiền vào bóp của L1. Về nội dung này hiện nay do chưa làm việc được với Hỷ Thành L1, ngoài lời khai của bị cáo D thì chưa có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh làm căn cứ xử lý. Vì vậy, tránh để lọt tội phạm cần kiến nghị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Đối với đối tượng Hỷ Thành L1: Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B hiện chưa làm việc được với L1 nên chưa có cơ sở xử lý theo quy định, Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh B đã có quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án:
- - Số tiền 50.000 đồng phí chuyển tiền do H1 đã đưa cho bà Trịnh Đình Q1 là tiền do phạm tội mà có cần buộc bà Q1 giao lại để thu nộp Ngân sách nhà nước.
- - 40 (bốn mươi) tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng có các ký hiệu sêri: + 03 (ba) tờ có số sê ri: HQ 18921299,
- + 10 (mười) tờ có số sê ri: FG 18921063,
- + 11 (mười một) tờ có số sê ri: DT 18423274,
- + 16 (mười sáu) tờ có số sê ri: BK 20367073.
Đây là số tiền giả là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) tờ A4 một mặt có nội dung, được in ra từ điện thoại Iphone 12 Promax, I: letung100175@icloud.com của anh Lê Thanh T. Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
- - 01 (một) USB nhãn hiệu JVJ 8GB, mã số: L99TaiWanQ4.22, trong USB có lưu trữ 02 (hai) video trích xuất Camera tại tiệm cầm đồ Tùng Phụng vào ngày 25/11/2022 do Trịnh Đình Q1 giao nộp. Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
- - 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu đen, số máy MT5V2LL/A, số sê ri: G6TXNL73KPHC, IMEI: 357267099021598, gắn sim điện thoại: 0334.455.xxx tạm giữ của Ngô Thị Thùy D không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Ngô Thị Thùy D phạm tội: “Lưu hành tiền giả”.
- Áp dụng khoản 2 Điều 207; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Ngô Thị Thùy D 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- -Buộc bà Trịnh Đình Q1 giao lại số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) thu nộp Ngân sách nhà nước.
- -Tịch thu tiêu hủy 40 (bốn mươi) tờ tiền giả polyme mệnh giá 500.000 đồng có các ký hiệu sêri:
- + 03 (ba) tờ có số sê ri: HQ 18921299,
- + 10 (mười) tờ có số sê ri: FG 18921063,
- + 11 (mười một) tờ có số sê ri: DT 18423274,
- + 16 (mười sáu) tờ có số sê ri: BK 20367073.
- - Trả lại cho bị cáo D 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu đen đã cũ không lên nguồn, không kiểm tra được số máy và số IMEI thiết bị máy bên trong.
- (Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 0002237 ngày 03/4/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Đ).
- Kiến nghị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi của Ngô Thị Thùy D khai nhận đi cùng H Thành Long bán, giao dịch tiền giả tại tỉnh Bình Thuận vào khoảng tháng 12/2022.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Bị cáo Ngô Thị Thùy D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Ngô Thị Thùy D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lưu hành tiền giả
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lưu hành tiền giả
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
