TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 61/2024/HS - ST Ngày 06 - 9 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh M
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn K
Ông Trần Văn H
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt A - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải D - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đình C, sinh năm 1992 tại xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình L và bà Lê Thị Đ; có vợ là: Nguyễn Thị Q và chưa có con; tiền án, tiền sự: 01 tiền án. Tại Bản án số 65/2021/HS-ST ngày 12/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Đình C 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 21/9/2021, C đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 03/01/2023, C đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến ngày 03/4/2024, lại tiếp tục phạm tội như nội dung nêu trên nên chưa được xóa án tích; Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y “có mặt”.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1997 “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/4/2024, khi Nguyễn Đình C, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đang ở xã P, huyện V thì có nhu cầu sử dụng chất ma túy “đá” nên C một mình đi nhờ xe của người qua đường đi đến xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến nơi thì C xuống xe đi bộ. Đến một ngõ nhỏ thuộc xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (không rõ địa chỉ cụ thể) thì C gặp và mua được 01 túi ma túy “đá” với giá 300.000 đồng của một nam giới lạ mặt, khoảng 30 tuổi, dáng người gầy (không rõ lai lịch cụ thể), đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner, màu đen (không rõ biển kiểm soát). Sau khi mua được ma túy, C cầm túi ma túy bên tay phải rồi đi bộ về xã P, huyện V để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì đúng lúc này có Tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của C 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng tinh thể dạng đá màu trắng niêm phong kí hiệu A1 là ma túy “đá” của C tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định pháp luật.
Căn cứ Quyết định trưng cầu giám định số 430/QĐ-ĐCSKT-MT ngày 03/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đối với mẫu ký hiệu A1 chứa 0,2696 gam mẫu tinh thể dạng đá màu trắng, ngày 07/4/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 954/KL-KTHS kết luận:
“5.1. Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine, có khối lượng: 0,2696g (Không phẩy hai sáu chín sáu gam, không kể bao bì).
5.2. Từ chối giám định đối với yêu cầu xác định “Hàm lượng của từng chất ma túy trong mẫu A1 gửi giám định” do Phòng K không có đủ năng lực và điều kiện để giám định.
Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”.
Căn cứ Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 601/QĐ-ĐCSKT-MT ngày 14/5/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đối với mẫu ký hiệu A1 chứa 0,2233 gam mẫu tinh thể dạng đá màu trắng, ngày 23/5/2024, V - Bộ C1 có Kết luận giám định số 3567/KL-KTHS kết luận:
- Hàm lượng chất ma túy Methamphetamine trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là 62,78%.
- Hàm lượng chất ma túy Ketamine trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là 15,71%.
Như vậy, có căn cứ để xác định khối lượng chất ma túy Methamphetamine có trong mẫu ký hiệu A1 là 0,1692 gam, khối lượng chất ma túy Ketamine có trong mẫu ký hiệu A1 là 0,0423 gam.
Trong trường hợp này, xét M và Ketamine là hai chất ma túy được quy định tại hai điểm khác nhau của khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khối lượng Methamphetamine thuộc điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (từ 0,1 gam đến dưới 05 gam), khối lượng Ketamine không thuộc điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (từ 01 gam đến dưới 20 gam) nên cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ Quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Theo đó:
- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu đối với Methamphetamine quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 3,384% (0,1692 gam so với 05 gam).
- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 0,211% (0,0423 gam so với 20 gam).
- Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cả hai chất Methamphetamine và Ketamine là 0,211% + 3,384% = 3,595% (dưới 100%), nên hành vi của Nguyễn Đình C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (tổng khối lượng 02 chất ma túy là 0,2696 gam).
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Nguyễn Đình C khai nhận, bản thân nghiện ma túy từ năm 2015 cho đến nay chưa từ bỏ được. Ngày 03/4/2024, C tìm gặp và mua được gói ma túy “đá” với giá 300.000 đồng của 01 nam giới lạ mặt, khoảng 30 tuổi, dáng người gầy (không rõ lai lịch cụ thể), đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner, màu đen (không rõ biển kiểm soát) để sử dụng cho bản thân nhưng chưa sử dụng được thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
Đối với 01 nam giới chưa rõ lai lịch là người bán ma túy cho C nêu trên: Tại Cơ quan điều tra, C khai nhận đây là lần đầu tiên C mua ma túy của người này, bản thân C cũng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ rõ đặc điểm cụ thể của người này, chỉ biết người này khoảng 30 tuổi, dáng người gầy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh và không đề cập xử lý.
Vật chứng của vụ án là: Bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 3567/KL-KTHS mẫu vật hoàn trả sau giám định” là vật Nhà nước cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Quá trình điều tra Nguyễn Đình C đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 59/CT - VKSYL ngày 23 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Đình C từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 03/4/2024; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Bị cáo C không có ý kiến bổ sung gì khác và cũng không có ý kiến tranh luận.
Người làm chứng anh Nguyễn Văn Đ1 vắng mặt tại phiên tòa xong trong quá trình điều tra anh trình bày các nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo C cùng các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Đình C đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (bao gồm Methamphetamine và Ketamine) có khối lượng bằng 0,2696 gam thì bị Tổ Công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang.
[3] Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh V, Kết luận giám định của V Bộ C1 và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi cất giấu ma túy của bị cáo Nguyễn Đình C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.” ...
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến tính chất độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện. Ma túy là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, trong giai đoạn hiện nay tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng. Để nhằm mục đích tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhận thức bình thường, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, bất chấp quy định của pháp luật xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hơn nữa, bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 65/2021/HS-ST ngày 12/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 21/9/2021, C đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 03/01/2023, C đã chấp hành xong hình phạt tù, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà đến ngày 03/4/2024, C tiếp tục phạm tội như nội dung nêu trên. Như vậy, lần phạm tội này của C thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ về hành vi bị cáo đã thực hiện như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan trong vụ án:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ số 3567/KL-KTHS mẫu vật hoàn trả sau giám định” là vật Nhà nước cấm lưu hành.
Đối với 01 nam giới lạ mặt, khoảng 30 tuổi, dáng người gầy (không rõ lai lịch cụ thể), đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner, màu đen (không rõ biển kiểm soát), C khai đã bán ma túy cho C, Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên không có cơ sở để xác minh và không đề cập xử lý.
Đối với người đã cho Nguyễn Đình C đi nhờ xe để đi mua ma túy: C không biết người này là ai, ở đâu nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 03/4/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ số 3567/KL-KTHS mẫu vật hoàn trả sau giám định” (Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 13/8/2024).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh M |
Bản án số 61/2024/HS - ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 61/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình C
