Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 06-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Dũng;

Ông Nguyễn Tấn Lập.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 20/6/1994 tại tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

Tên gọi khác: K.

Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Số E Thủ Khoa N, khu phố D, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị H; Anh chị em ruột 04 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2000, bị cáo là người con thứ 2 trong gia đình; bị cáo có chồng tên Lê Văn T1 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Bản án hình sự số 250/2015/HS-ST ngày 16/11/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 02 năm tù treo về tội “Cố ý gây thương tích” (Đã xóa án tích);

Bị cáo Nguyễn Thị Bích T bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 cho đến nay.

2. Lê Văn D, sinh ngày 05/4/1996 tại tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp V, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Trần Ngọc S và bà Lê Thị P; Anh chị em ruột 04 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2006, bị cáo người con thứ hai trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo Lê Văn D bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024 cho đến nay.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

3. Anh Trương Thanh H1, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị P, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Số G T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

2. Ông Võ Ngọc T2, sinh năm: 1973. Địa chỉ: F P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2023, Nguyễn Thị Bích TLê Văn D, sinh sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn, cả hai không có việc làm ổn định, lười lao động, để có tiền tiêu xài TD đã bàn bạc với nhau tìm xe mô tô để trộm cắp, đem bán lấy tiền tiêu xài:

Vụ thứ 1:

Ngày 05/4/2024, TD chơi game ở tiệm Internet (không nhớ tên) D đi về trước, T đi bộ theo sau.

Khi đi ra khỏi tiệm Internet khoảng hơn 01 km, thuộc xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang, T vào quán cà phê mua nước uống, T thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 68D1-273.50 của anh Nguyễn Minh Đ, quan sát thấy trên xe mô tô có cắm chìa khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô. T ngồi lên xe khởi động máy rồi điều khiển xe chạy ra đường Tỉnh lộ 969B hướng Ngã ba cầu L

Khi đến nhà, D thấy T cùng chiếc xe mô tô biển số 68D1-273.50, nên D hỏi về nguồn gốc xe, thì T cho biết vừa trộm cắp được và D điều khiển xe mô tô 68D1-273.50 chở T về đến Rạch G để tìm nơi tiêu thụ.

Khi đến Rạch G, T chạy xe vào trong Hẻm G (không rõ địa chỉ) gặp người thanh niên tên G (tên thường gọi là P1, không rõ lai lịch) để nhờ cầm cố chiếc xe mô tô biển số 68D1-273.50, T nói với G là chiếc xe của người em của T, nhờ cầm giùm, xe không có giấy, thì G kêu T đợi. Giá chạy xe đi cầm, lát sau G quay lại nói do xe không có giấy nên cầm được 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), sau đó T cho G số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), số tiền còn lại TD dùng để tiêu xài.

Vụ thứ 2:

Khoảng 14 giờ ngày 09/4/2024, TD đến Trung tâm thương mại thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang khi đi ngang quán karaoke thuộc khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang thì T phát hiện có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đen, biển số 68D1- 423.52 của ông Nguyễn Thanh V, trên xe có cắm chìa khoá, không có người trông giữ, T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên, đem bán lấy tiền tiêu xài, T kêu Dũ ngồi ở ngoài để canh đường, còn T trực tiếp lấy xe, T đi lại ngồi lên xe khởi động máy rồi chạy đến chỗ D, chở D chạy về thành phố R.

Khi đến Rạch G, T kêu D chở đến gặp bạn của D tên là Lê Nguyễn Nghi LPhan Thanh L1 đang thuê trọ tại nhà T, đường C, phường V, thành phố R. Sau đó T nhờ L1L tìm chỗ để cầm cố xe, sau đó L1 gọi điện thoại cho Vi Hoàng N đến xem chiếc xe, sau khi thoả thuận, T đồng ý bán chiếc xe mô tô 68D1- 423.52 cho N với giá 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng). T cho L1 số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), số tiền còn lại TD dùng để tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 3:

TD đi xe ôm từ cầu L đến khu vực Trường D2 thuộc ấp V, xã S, huyện H để thuê nhà trọ. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 10/4/2024, TD trả phòng sau đó đi xe ôm do ông Vũ Văn C1 điều khiển chở TD về thành phố R.

Khi đi được khoảng 05 km, thì T thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future màu trắng, biển số 68D1-258.00 của anh Trương Thanh H1 đậu phía trước cửa tiệm thuốc tây tại tổ A, khu phố S, thị trấn S, huyện H, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô, đem về thành phố R bán, lấy tiền tiêu xài, nên T kêu ông Vũ Văn C1 quay xe lại chạy về hướng H.

Khi qua tiệm thuốc tây khoảng 04 căn nhà, T kêu ông C1 dừng xe, T xuống xe rồi kêu ông C1 chở D về Rạch G trước, còn T đi bộ đến vị trí chiếc xe Future màu trắng, biển số 68D1-258.00 đang đậu, trên xe có cắm chìa khoá, T quan sát phát hiện không có người trông giữ xe, nên T ngồi lên xe đề (khởi động) xe rồi điều khiển xe về hướng Rạch G, liền sau đó, anh H1 phát hiện bị mất xe nên tri hô và cùng người dân truy đuổi về hướng thành phố R và bắt giữ Vũ Văn C1Lê Văn D giao Công an thị trấn S.

Sau khi điều khiển xe mô tô biển số 68D1-258.00 về đến thành phố R, T mở cốp xe kiểm tra thì thấy bên trong có giấy tờ xe. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T đem xe mô tô biển số 68D1-258.00 cùng giấy tờ xe, đến gặp Trần Anh D1 (tên thường gọi B), sinh năm 1987, cư trú số 381/11/3 đường M, phường V, thành phố R, để nhờ D1 mang cầm giùm, T cho D1 biết xe mô tô là do mẹ của D mua cho T, T đưa chìa khoá và giấy tờ xe cho D1, D1 mang xe mô tô 68D1-258.00 đến cầm cho ông Võ Ngọc T2 với số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng). Sau đó T cho D1 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), số tiền còn lại T dùng để tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:

1. Chiếc xe mô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn Trắng-Đen-Bạc, biển kiểm soát 68D1-273.50, số máy HC12E5764479, số khung RLHHC1215DY764347 tại thời điểm ngày 05/4/2024 có giá trị 10.005.000₫ (Mười triệu không trăm lẻ năm nghìn đồng).

2. Chiếc xe mô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn Vàng-Đen, biển kiểm soát 68D1-423.52, số máy JA36E0539827, số khung RLHJA3654GY041894 tại thời điểm ngày 09/4/2024 có giá trị 13.635.000đ (Mười ba triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

3. Chiếc xe mô nhãn hiệu Honda, số loại FUTURE, màu sơn Đỏ-Xám, biển kiểm soát 68D1-258.00, số máy JC54E3024470, số khung 5381EZ015507, bánh trước căm, bánh sau mâm, bánh trước phanh đĩa, bánh sau phanh đùm, tại thời điểm ngày 10/4/2024 có giá trị 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

- 01 (một) xe mô nhãn hiệu HonDa, số loại FUTURE, màu sơn Đỏ-Xám, biển kiểm soát 68D1-258.00, số máy JC54E3024470, số khung 5381EZ015507, bánh trước căm, bánh sau mâm, bánh trước phanh đĩa, bánh sau phanh đùm.

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 006573 mang tên Nguyễn Hoàng T3.

* Việc xử lý đồ vật, tài liệu:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại FUTURE, màu sơn Đỏ-Xám, biển kiểm soát 68D1-258.00, số máy JC54E3024470, số khung 5381EZ015507 và một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 006573 mang tên Nguyễn Hoàng T3 cho anh Trương Thanh H1, sinh năm 1996, cư trú tại số B, ấp T, xã S, huyện H là chủ sở hữu hợp pháp.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Trương Thanh H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu T bồi thường.

- Ông Nguyễn Minh Đ là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-273.50 yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000đ (Chín triệu đồng).

- Ông Nguyễn Thanh V là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-423.52 yêu cầu TD bồi thường số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

- Ông Võ Ngọc T2 là người đã cầm cố chiếc xe mô tô, biển số 68D1-258.00 cho T với số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng), yêu cầu T bồi thường lại số tiền trên.

- Đối với hành vi của ông Trần Anh D1 là người đem chiếc xe biển kiểm soát 68D1-258.00 cầm cố cho ông Võ Ngọc T2 với số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) và ông D1 không biết chiếc xe trên do phạm tội mà có. Do đó, không có căn cứ khởi tố.

- Đối với hành vi của ông Võ Ngọc T2 là người đã cầm cố chiếc xe biển kiểm soát 68D1-258.00 với số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) và ông T2 không biết chiếc xe trên do phạm tội mà có, sau đó tự giác giao nộp lại chiếc xe trên. Do đó, không có căn cứ khởi tố.

- Đối với hành vi của ông Vi Hoàng N là người mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68D1-423.52, hiện tại N không có mặt tại địa phương, nên Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra chưa làm việc, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với hành vi của Phan Thanh L1Lê Nguyễn Nghi L là người giới thiệu cho Vi Hoàng N đến mua xe mô tô biển kiểm soát 68D1-423.52, không biết chiếc xe trên do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để khởi tố.

- Đối với hành vi người đàn ông tên P1, là người đã mang chiếc xe mô tô biển số 68D1-273.50 đi cấm cố cho T, hiện tại Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác minh được thông tin lý lịch nên chưa đủ căn cứ xử lý.

Tại Cáo trạng số: 68/CT-VKS-HĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân huyện H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố:

Bị cáo Nguyễn Thị Bích TLê Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Lê Văn D về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa tranh luận và luận tội:

Khoảng thời gian từ ngày 05/4/2024 đến ngày 10/4/2024 trên địa bàn huyện H, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Thị Bích T thực hiện ba vụ trộm cắp tài sản tổng giá trị tài sản là 37.640.000₫ (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), Lê Văn D thực hiện một vụ trộm cắp tài sản với giá trị tài sản là 13.635.000đ (Mười ba triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và một vụ tiêu thụ tài do người khác phạm tội mà có đối với xe mô tô 68D1-273.50 do Nguyễn Thị Bích T trộm cắp.

Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đối với các bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Bị cáo T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên theo quy định điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Từ đó, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo Lê Văn D không có tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ là vận động người thân bồi thường, khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Từ đó, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn D từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Đối với bị cáo Lê Văn D vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tình tiết giảm nhẹ là vận động người thân bồi thường, khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Từ đó, đề nghị HĐXX áp dụng 38, Điều 55, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn D từ 09 tháng đến 15 tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Trương Thanh H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.

- Ông Nguyễn Minh Đ là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-273.50 yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Tuy nhiên, sau đó, thì bà Lê Thị P mẹ của bị cáo Lê Văn D đã bồi thường cho ông Đ 4.500.000 đồng, đối với phần của D. Nên đề nghị HĐXX buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải bồi thường cho ông Đặng p còn lại là 4.500.000 đồng.

- Ông Nguyễn Thanh V là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-423.52 yêu cầu TD bồi thường số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng). Sau đó thì bà Lê Thị P mẹ của bị cáo Lê Văn D đã bồi thường cho ông V 7.000.000 đồng. Bà P không yêu cầu bị cáo T trả lại ½ số tiền đã bồi thường cho ông V là 3.500.000 đồng, nên đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.

- Ông Võ Ngọc T2 là người đã cầm cố chiếc xe mô tô, biển số 68D1-258.00 cho T với số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Không yêu cầu bị cáo T bồi thường, nên đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.

* Về xử lý vật chứng:

Bị hại Trương Thanh H1 đã nhận lại tài sản, nên việc xử lý vật chứng đã xong, nên đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.

Bị hại Nguyễn Minh Đ là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-273.50 và Nguyễn Thanh V là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-423.52 do không thu hồi lại được tài sản bị trộm, nên sẽ được bồi thường bằng tiền.

* Ý kiến những người bị hại:

Bị hại Trương Thanh H1 đã nhận lại tài sản, có văn bản không yêu cầu gì thêm và xin vắng mặt.

Bị hại Nguyễn Minh Đ có văn bản yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải bồi thường cho ông phần còn lại là 4.500.000 đồng và xin vắng mặt.

Bị hại Nguyễn Thanh V có văn bản trình bày đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm và xin vắng mặt.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Võ Ngọc T2 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải hoàn trả cho ông số tiền 7.000.000 đồng.

Lê Thị P không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bích TLê Văn D phải hoàn trả lại số tiền bà đã bồi thường cho các bị hại.

Các bị cáo không có tranh luận gì với Viện Kiểm sát và nói lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án: Xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Bích TLê Văn D khai nhận:

Vào ngày 05/4/2024 tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang, T trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Minh Đ một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu Trắng - Đen - Bạc, biển số 68D1-273.50.

Khoảng 14 giờ, ngày 09/4/2024, tại khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, TD trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Thanh V một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu Vàng - Đen, biển số 68D1- 423.52.

Khoảng 11 giờ, ngày 10/4/2024, tại tổ A, khu phố S, thị trấn S, huyện H, T trộm cắp tài sản của anh Trương Thanh H1 một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future màu Đỏ - Xám, biển số 68D1-258.00.

Xét việc khai nhận này của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tài liệu chứng cứ, lời khai của những người bị hại trong vụ án và Kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tổng giá trị thiệt hại tài sản của các bị hại là 37.640.000 đồng.

Trong đó, bị cáo Nguyễn Thị Bích T thực hiện ba vụ trộm cắp tài sản tổng giá trị tài sản là 37.640.000₫ (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), bị cáo Lê Văn D thực hiện một vụ trộm cắp tài sản với giá trị tài sản là 13.635.000₫ (Mười ba triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và một vụ tiêu thụ tài do người khác phạm tội mà có đối với xe mô tô 68D1-273.50 do bị cáo Nguyễn Thị Bích T trộm cắp.

Với hành vi vì lợi dụng lúc vắng vẻ, mất cảnh giác của chủ sở hữu, các bị cáo Nguyễn Thị Bích TLê Văn D nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Do đó, các bị cáo Nguyễn Thị Bích T và bị cáo Lê Văn D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Riêng bị cáo Lê Văn D có thêm hành vi tiêu thụ tài sản một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu Trắng - Đen - Bạc, biển số 68D1-273.50, mà bị cáo biết rõ đây là tài sản do bị cáo Nguyễn Thị Bích T trộm cắp.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của những người bị hại. Bản thân các bị cáo lười lao động, nhưng với mong muốn chiếm đoạt, sử dụng tài sản của người khác trái pháp luật. Lợi dụng sự sơ hở và bất cẩn của các bị hại để lén lút lấy đi tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã gây ra thiệt hại về vật chất cho các chủ sở hữu tài sản, mà còn gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo T đã trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Minh Đ và anh Trương Thanh H1 và cùng với bị cáo D trộm cắp tài sản ông Nguyễn Thanh V, cho thấy ý thức hết sức xem thường pháp luật của bị cáo. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, cho nên phải bị truy tố và xét xử theo quy định. Trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần quyết định cho các bị cáo một mức án nghiêm khắc, phù hợp với vai trò của từng bị cáo là cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với hành vi tiêu thụ tài sản người khác phạm tội mà có của bị cáo D: Bị cáo D biết rõ tài sản là do bị cáo T trộm cắp, nhưng vẫn mặc nhiên cùng với bị cáo T điều khiển xe mô tô 68D1-273.50 vừa được T trộm được, chở T về đến Rạch G để tìm nơi tiêu thụ. Do đó, hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành của tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị Bích T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS đối với tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Lê Văn D không có tình tiết tăng nặng đối với tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị Bích T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bà P (mẹ ruột của bị cáo D; T - Dũ chung sống với như vợ chồng) bồi thường đối với tài sản trộm của ông Nguyễn Thanh V, nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Lê Văn D đã vận động người thân bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được áp dụng điểm b, s Điều 51 BLHS đối với tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát: Về tội danh là phù hợp; Về hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức án và trách nhiệm dân sự đề nghị là phù hợp, nên HĐXX chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Trương Thanh H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải bồi thường cho ông Nguyễn Minh Đ số tiền là 4.500.000 đồng.

- Ông Võ Ngọc T2 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải hoàn trả cho ông số tiền 7.000.000 đồng, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

- Bà Lê Thị P không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bích TLê Văn D phải hoàn trả lại số tiền bà đã bồi thường cho các bị hại, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng:

Bị hại Trương Thanh H1 đã nhận lại tài sản, nên việc xử lý vật chứng đã xong, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Bị hại Nguyễn Minh Đ là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-273.50 và Nguyễn Thanh V là chủ hợp pháp chiếc xe mô tô, biển số 68D1-423.52 do không thu hồi lại được tài sản bị trộm, nên sẽ được bồi thường bằng tiền.

[10] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Thị Bích TLê Văn D mỗi bị cáo phải nộp án án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 4.500.000 đồng phải bồi thường cho ông Nguyễn Minh Đ là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/4/2024.

  2. Căn cứ Điều 173 và Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn D 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn D 09 (C2) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Văn D phải chấp hành 18 (Mười tám) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/6/2024.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  4. Về trách nhiệm dân sự:

    - Anh Trương Thanh H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

    - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải bồi thường cho ông Nguyễn Minh Đ số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

  5. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  6. Về án phí:

    - Bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Tổng cộng là 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng).

    - Bị cáo Lê Văn D phải nộp án án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

  7. Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2024). Đối với những người không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang (1);
  • - VKSND huyện Hòn Đất (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THA huyện Hòn Đất (1)
  • - Cơ quan điều tra huyện Hòn Đất (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - Bị hại (3);
  • - Lưu VP (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Nguyễn Thanh Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bích Th trộm cắp tài sản Lê Văn D trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger