Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 61/2024/ HNGĐ - ST

Ngày: 06/8/2024

V/v: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh

2. Ông Lê Văn Tú

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Minh Phương – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/ 2024/ QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị L - Sinh năm 1997 - Có mặt

Nơi cư trú: Phố T, Phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: Phố T, Phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B – Sinh năm 1993 - Vắng mặt

Nơi cư trú: Phố T, Phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang chấp hành án tại Đội 45 phân trại K2, cục C trại giam T - T, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau vào năm 2014, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A,Thành phố T.

Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau. Đến năm 2017 do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau.

Quá trịnh vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải, động viên nhưng không có kết quả. Mặt khác hiện nay anh B đang chấp hành án về tội “ Gây rối trật tự công cộng” tại trại giam T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, nên tình cảm vợ chồng không thể cải thiện được, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài,, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn Bảo L1 – sinh ngày 11/8/2014. Hiện nay cháu Nguyễn Văn B1 L1 đang ở với chị L.

Ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung..

Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản khai bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn B cũng thống nhất anh và chị L kết hôn vào năm 2014, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ ( nay là phường A, Thành phố T). Nay anh cũng xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn B và chị Lê Thị L có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn Bảo L1 - sinh ngày 11/ 8/2014. Do hiện nay anh đang phải chấp hành án, nên không có điều kiện để chăm sóc, nuôi con chung. Do đó anh B đồng ý để cô L trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo yêu cầu của cô Lê Thị L.

Về tài sản, công nợ: Anh B không yêu cầu tòa án giải quyết.

Do hiện nay anh đang phải chấp hành án, nên anh không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng, anh đề nghị Tòa án không mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Kết quả thu thập chứng cứ và xác minh tại chính quyền địa phương: Chị L và anh B kết hôn với nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ ( nay là phường A, Thành phố T. Quá trình chung sống tại địa phương anh chị có sảy ra mâu thuẫn như thế nào thì chính quyền địa phương không nắm được. Hiện nay anh B đang đi chấp hành án phạt tù, nên không có mặt tại địa phương. Nay chị L yêu cầu xin ly hôn với anh B thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa chị Lê Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện VKS:

Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý đến quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện VKSND Thành phố Thanh Hóa đề nghị HĐXX:

Áp dụng:

Điều 56, 81, 82, và 83 của Luật HNGĐ. Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn Bảo L1 – sinh ngày 11/ 8/2014.

Ly hôn, giao cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét;

Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thành phố T, là thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn Văn B đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Nên HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh B.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng và anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2017 đến nay, hiện nay anh B phạm tội phải đi chấp hành án phạt tù. Mặt khác anh B cũng xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, nên nay chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn Bảo L1 – sinh ngày 11/8/2014.

Hiện nay cháu L1 đang ở với chị L. Ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung..

Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung của chị Lê Thị L là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với điều kiện thực tế. Mặt khác cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Văn Bảo L1. Do đó HĐXX căn cứ vào Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Bảo L1. Anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị L.

Anh B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;

[4] Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 56; Điều 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điểm a Khoản 5Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
  2. Về nuôi con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn Bảo L1 – sinh ngày 11/8/2014.
  3. Ly hôn, giao cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Bảo L1 – sinh ngày 11/8/2014. Anh Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị L.

    Anh Nguyễn Văn B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;

  4. Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0001392 ngày 05/ 4/ 2024 của Chi cục THADS thành phố T ( Chị L đã nộp đủ tiền án phí).
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  7. Anh Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS TP Thanh Hoá;
  • - UBND P. An Hưng;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/ HNGĐ - ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 61/2024/ HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án L + B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger