Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2024

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Tấn Dũng.
  2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị N1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990; Nơi cư trú: Khóm T2, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu N2, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Khóm T2, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 4 năm 2024, biên bản lấy lời khai ngày 03 tháng 5 năm 2024 và bản khai ngày 03 tháng 5 năm 2024 của nguyên đơn chị Trần Thị N1 trình bày: Vào năm 2014, chị và anh Nguyễn Hữu N2 cưới nhau, hôn nhân do mai mối, chị và anh N2 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTT (nay là thị trấn TTT), huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới cả hai cùng sống chung với gia đình anh N2. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải nhau, càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N2. Về nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Hữu N2 đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị N1 được ly hôn với anh Nguyễn Hữu N2; về nuôi con chung: Không có, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; về tài sản chung: Chị Trần Thị N1 trình bày tự thỏa thuận, còn anh Nguyễn Hữu N2 không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; về nợ chung: Chị Trần Thị N1 trình bày không có, còn anh Nguyễn Hữu N2 không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  2. Nguyên đơn chị Trần Thị N1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hoàng Bửu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị N1 và anh Nguyễn Hữu N2 là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị N1 đối với anh Nguyễn Hữu N2, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Trần Thị N1 thì cuộc sống của chị và anh Nguyễn Hữu N2 không hạnh phúc từ đầu năm 2023 do vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải nhau, càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị N1 và anh N2 hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị N1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Trần Thị N1 ly hôn với anh Nguyễn Hữu N2.
  4. Về việc nuôi con chung: Chị Trần Thị N1 trình bày trong thời gian sống chung giữa chị và anh Nguyễn Hữu N2 không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Nguyễn Hữu N2 không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  5. Về tài sản chung: Chị Trần Thị N1 cho rằng đã tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Nguyễn Hữu N2 không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  6. Về nợ chung: Chị Trần Thị N1 cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Nguyễn Hữu N2 không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  7. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N1, cho ly hôn giữa chị Trần Thị N1 và anh Nguyễn Hữu N2.
  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị N1 chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006068 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - UBND TT.TTT, H.HN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lương Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị N1 yêu cầu ly hôn với anh N2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger