Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS-ST

Ngày 05/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Công Kiều và ông Lê Lý Bằng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/TLST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXX-HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Lê Xuân Đ; Giới tính:Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 11/6/ 1979, tại xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn H, xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Lê Xuân S và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: có 02 tiền án, cụ thể:

  • - Ngày 31/10/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2012, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 17/01/2015.
  • - Ngày 01/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm p khoản 2 và khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/8/2015, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 13/5/2023, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này (31/8/2023) chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2023, đến ngày 06/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T; Giới tính:Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 16/7/1987, tại xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện H, Tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị P; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị L1 - sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 31/8/2023, đến ngày 06/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Nguyễn Xuân L2 - sinh năm 1954
  2. Anh Đỗ Văn C - sinh năm 1994

Cùng địa chỉ: Khu T, Thị Trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Nguyễn Thành Đ1 - sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Ông Vũ Hồng N - sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 31/8/2023, Nguyễn Văn T, sinh năm 1987, cư trú ở thôn T, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngồi nhờ xe của người đi đường không quen biết xuống đến Cầu N ở khu T, thị trấn H, huyện H rồi xuống xe đi bộ đến nhà Lê Xuân Đ, sinh năm 1979 cư trú ở thôn H, xã X, huyện H mua của Đ 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng rồi đi về.

Khoảng 08 giờ cùng ngày, T đi bộ về đến Cầu N thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H kiểm tra, phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi đang Tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy ở tay trái; thu giữ và niêm phong 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn. Khi gặp Tổ công tác thì T đã thả gói ma túy xuống mặt đường, sau đó tự nguyện nhặt lên giao nộp và khai nhận đó là ma túy. Quá trình bắt giữ quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng (trong phong bì ký hiệu M) theo quy định, Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và ông Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1954; ông Đỗ Văn C, sinh năm 1954 cùng cư trú ở khu T, thị trấn H chứng kiến.

Cùng ngày 31/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Xuân Đ. Quá trình khám xét đã thu giữ 01 túi ni lông màu trắng, kích thước khoảng 03 x 05cm, bên trong có 06 gói giấy thiếc, gồm: 03 gói giấy thiếc màu trắng và 03 gói giấy thiếc màu vàng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn do Đ đã tự nguyện lấy trong lỗ viên gạch để ở gốc cây nhãn ngoài rìa đường, ngay cổng ngõ nhà Đ ra giao nộp và khai nhận đó là ma túy cùng với số tiền 400.000 đồng do đã bán ma túy cho T mà có. Quá trình khám xét, thu giữ và niêm phong vật chứng (trong các phong bì ký hiệu M1, M2) theo quy định, Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và ông Vũ Hồng N, sinh năm 1956, cư trú ở thôn H, xã X; anh Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1995, cư trú ở thôn L, xã T, huyện H chứng kiến. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T nhưng không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ việc. Quá trình khám xét, Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và bà Lê Thị H, sinh năm 1976; bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1988 cùng cư trú ở thôn T, xã C, huyện H chứng kiến.

Cùng ngày 31/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 116/QĐ-ĐCSKT-MT - trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định toàn bộ số vật chứng đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 3145/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,150g (không phẩy một năm không gam), loại Heroine (H). Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,298g (không phẩy hai chín tám gam), loại Heroine (H). Nguyễn Văn T và Lê Xuân Đ đều đồng ý với Kết luận giám định, không ai có ý kiến hay đề nghị gì.

Về nguồn gốc chất ma túy đã có để bán, Lê Xuân Đ khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 30/8/2023, Đ đi xe buýt xuống Ngã tư M rồi đi bộ đến khu vực nghĩa địa - giáp ranh giữa thôn N, xã Đ và thôn H, xã H, huyện H thì gặp và mua của một người nam giới không quen biết 01 gói ma túy với giá 2.000.000 đồng rồi mang về nhà chia ra thành 07 gói nhỏ tàng trữ nhằm mục đích để bán và đã bán cho T 01 gói, còn lại 06 gói Đông đã giao nộp khi bị khám xét khẩn cấp.

Cùng ngày 31/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xác minh, rà soát, xác định hệ thống Camera an ninh tại khu vực nghĩa địa - giáp ranh giữa thôn N, xã Đ và thôn H, xã H, huyện H nhưng không có Camera an ninh công cộng và Camera an ninh của các hộ gia đình. Quá trình xác minh, Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và Trưởng thôn Hưng P1 chứng kiến.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu, Nguyễn Văn T dương tính với chất gây nghiện Morphine.

Nguyễn Văn T và Lê Xuân Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; lời khai nhận tội phù hợp với các tài liệu đã được điều tra, thu thập trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong đựng các mẫu vật còn lại sau giám định và số tiền 400.000 đồng hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để thi hành án theo quyết định của bản án.

* Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSHL ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Lê Xuân Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định đối với các bị cáo về các tội danh, Điều luật nêu trên. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự đối với Lê Xuân Đ.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân Đ từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (31/8/2023).

Bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (31/8/2023).

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong đựng các mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng trên.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai báo và nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của những người chứng kiến, phù hợp với nội dung của các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. HĐXX, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 31/8/2023 tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra về tội phạm về kinh tế - Ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T về hành vi đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong 01 gói giấy màu vàng, bên trong chất chất bột màu trắng dạng cục vụn. Nguyễn Văn T khai nhận đó là ma túy vừa mua trước đó của Lê Xuân Đ với giá 400.000đ nhằm mục đích để sử dụng. Quá trình bắt giữ quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng (trong phong bì ký hiệu M).

Cùng ngày 31/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Xuân Đ thu giữ 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (03x05) cm, bên trong có 06 gói giấy thiếc gồm: 03 gói giấy thiếc màu trắng và 03 gói giấy thiếc màu vàng, bên trong mỗi gói đều chưa chất bột màu trắng dạng cục vụn, do Đ giao nộp và khai nhận đó là ma túy của Đ2 mua về tàng trữ nhằm mục đích để bán kiếm lời cùng với số tiền 400.000₫ do đã bán ma túy cho T mà có. Quá trình thu giữ và niêm phong vật chứng (trong các phong bì ký hiệu M1, M2).

Tại bản kết luận giám định số: 3145/KL – KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,150g (không phẩy một năm mươi gam) loại Heroine. Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,298g (không phẩy hai chín tám gam) loại Heroine.

Như vậy hành vi của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của Lê Xuân Đ mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023 chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này (31/8/2023) thuộc tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” nên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại diểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Xuân Đ, Nguyễn Văn T đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội; hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội pham khác. Do vậy, cần phải được xét xử nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Trong vụ án các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Xuân Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nguyễn Văn T và Lê Xuân Đ đã thành khẩn khai báo, khi bắt giữ quả tang và khám xét khẩn cấp, Nguyễn Văn T và Lê Xuân Đ đã tự nguyện giao nộp vật chứng và số tiền do phạm tội mà có. Đây được xem là những tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “tình tiết khác” là những tình tiết giảm nhẹ TNHS, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Từ những nhận định trên, HĐXX cần lên cho mỗi bị cáo một mức hình phạt tù nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo. Song HĐXX cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ TNHS mà các bị cáo được hưởng để lượng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định. Do đó, HĐXX không áp dụng khoản 5 (Điều 249, Điều 251) Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Xuân Đ.

[6]. Về vật chứng: HĐXX nhận thấy cần tịch thu tiêu hủy;Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7]. Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các bị cáo tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, lời nói sau cùng của các bị cáo xin HĐXX xử phạt mức án thấp để các bị cáo chấp hành và cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, làm công dân chấp hành pháp luật tốt. Đối với người chứng kiến: trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến.

[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Xuân Đ, Nguyễn Văn T phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Xuân Đ.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (31/8/2023).

Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (31/8/2023).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đựng các mẫu vật còn lại sau giám định có đóng dấu đỏ và chữ ký của Công an huyện H (ở các phần mép dán phong bì niêm phong) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng) theo uỷ nhiệm chi lập ngày 20/11/2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Các bị cáo Lê Xuân ĐNguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hậu Lộc
  • - Công an huyện Hậu Lộc
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA về hình sự (tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 61/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger