TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/8/2024 V/v: “tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng
Bà Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 196/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hải N, sinh năm 1993;
Cư trú: 97 ấp P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1995;
Thường trú: B, khu phố B, phường D, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Cư trú: 110/28 khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Ông N có yêu cầu giải quyết vắng mặt; bà D có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/5/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hải N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Ánh D đăng ký kết hôn vào ngày 22/7/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre. Để phát triển kinh tế gia đình, ông làm cơ khí còn bà D ở nhà nội trợ. Sau thời gian chung sống được hai năm, giữa ông và bà D bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Đến tháng 12/2023, bà D dọn đi nơi khác sống, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay, ông xác định không còn tình cảm với bà D nên yêu cầu ly hôn với bà D.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: ông N khai không có.
Do bận công việc, ông N đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án.
Tại phiên toà, bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh D trình bày:
Bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải của Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tuy nhiên do bận đi làm nên bà không có mặt trong các các lần triệu tập, thông báo của Toà án. Bà đăng ký thường trú tại địa chỉ B khu phố B, phường D, thành phố B, tỉnh Bến Tre nhưng hiện nay bà đang sinh sống tại địa chỉ 110/28 khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hải N, bà có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: bà thống nhất với lời trình bày của ông N về thời điểm, điều kiện đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre (nhà của cha mẹ chồng). Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông N không lo làm ăn, chơi cơ bạc dẫn đến bà và ông N thường xuyên cãi nhau, mẹ chồng của bà bênh vực ông N dẫn đến bà và mẹ chồng mâu thuẫn. Đến năm 2023, bà dọn về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Thời gian ly thân, giữa bà và ông N có nhắn tin trao đổi qua điện thoại, ông N đề nghị bà quay lại nhà chồng sinh sống nhưng bà không đồng ý. Nay, bà xác định còn tình cảm với ông N nên bà không đồng ý ly hôn với ông N.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: bà D khai không có.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: ông N và bà D khai không có nên không xem xét. Án phí thực hiện theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: ông Nguyễn Hải N khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Ánh D, ngoài ra ông N không có yêu cầu nào khác; bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh D không có yêu cầu phản tố. Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án "tranh chấp ly hôn" theo quy định tại Điều 51 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: quan hệ tranh chấp nêu trên là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh D có nơi cư trú tại 1 khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: quá trình giải quyết vụ án, ông N có đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt (BL27). Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N là có căn cứ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà D đăng ký kết hôn vào ngày 22/7/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C (BL05). Việc đăng ký kết hôn giữa ông N và bà D là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại đơn khởi kiện ngày 03/5/2024 (BL03), Biên bản lấy lời khai ngày 11/6/2024 (BL17) ông N trình bày hiện nay ông và bà D chung sống không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay, thời gian ly thân ông sinh sống tại C còn bà D sinh sống tại thành phố B. Tại phiên toà, bà D trình bày bà cũng thừa nhận bà và ông N đã ly thân từ năm 2023 đến nay, hiện nay giữa đôi bên chưa tìm được phương án để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Lời trình bày này của bà D được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa ông N và bà D là có thật; đồng thời, giữa ông N và bà D đã có thời gian ly thân, thời gian ly thân ông N, bà D mạnh ai nấy sống, không có sự chăm sóc, giúp đỡ nhau. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông N và bà D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà D là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: ông N và bà D khai không có nên không xem xét.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ông N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình không có giá ngạch với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- - Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hải N về việc “tranh chấp ly hôn” với bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh D, cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hải N được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh D.
- - Về con chung: Ông Nguyễn Hải N và bà Nguyễn Thị Ánh D khai không có nên không xem xét.
- - Về tài sản chung: Ông Nguyễn Hải N và bà Nguyễn Thị Ánh D khai không có nên không xem xét.
- - Về các vấn đề khác: Ông Nguyễn Hải N và bà Nguyễn Thị Ánh D khai không có nợ chung nên không xem xét.
2. Án phí: Ông Nguyễn Hải N có nghĩa chịu án phí hôn nhân và gia đình với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí số: 0004464 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (đã nộp xong).
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ánh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Hải N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
