|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do– Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-8-2024 V/v Xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K' My Na.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Hinh;
- Ông Bùi Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K' Dem- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2024/TLST-HNGĐ ngày 22-3-2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 26-6-2024; Quyết định hoãn phiên toà số 61/2024/QĐST-DS ngày 16-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng O, sinh năm: 1976
Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1969
Địa chỉ: Số A, Tổ A, Lý Thường K, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn T1- Cửa hàng V
Địa chỉ: Số A đường H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
(Ông T1 có mặt tại phiên toà; bà O và ông T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng O vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên căn cứ theo đơn khởi kiện, lời khai của bà O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện kết hôn năm 1996, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Bà O xác định, bà và ông T có 04 con chung tên Nguyễn Hoàng Minh Đ, sinh năm 1997; Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh năm 2002 hiện đã trưởng thành hoàn toàn khoẻ mạnh; Nguyễn Hoàng Nhật D, sinh ngày 14-4-2014; Nguyễn Hoàng Minh U, sinh ngày 09-5-2016. Khi ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản cho vay chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết.
Tài sản nợ chung: Bà O xác định vợ chồng có nợ Cửa hàng V số tiền 50.000.000đ. Nợ chi hội phụ nữ Hội thánh Afraham 3.000.000đ. Bà O sẽ tự thỏa thuận, trả nợ mỗi tháng, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Minh T vắng mặt tại phiên tòa cũng như trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T1- Cửa hàng V trình bày : Năm 2017 vợ chồng ông T, bà O có mua vật liệu xây dựng cửa hàng của ông và còn nợ số tiền 52.577.000đ. Nay vợ chồng họ ly hôn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Hoàng O, ông Nguyễn Minh T trả số tiền 52.577.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Bà O, ông T không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng O đã được triệu tập và tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng lần thứ hai nhưng vắng mặt nên định chỉ giải quyết việc ly hôn, thay đổi tư cách tố tụng đương sự trong vụ án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Đỗ Văn T1, buộc bà O và ông T có trách nhiệm trả số tiền 52.577.000đ cho ông T1.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng O, bị đơn ông Nguyễn Minh T, đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ Điều 227. Điều 228 và điểm c khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án xét xử vụ án theo thủ tục chung. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng O về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Minh T, đồng thời thay đổi tư cách tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T1 trở thành nguyên đơn; nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng O và bị đơn ông Nguyễn Minh T trở thành bị đơn trong vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn T1, Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ tài liệu chứng cứ do ông T1 giao nộp cho Toà án thể hiện ngày 19-6-2017 T - O có nợ tiền 67.577.000đ, đến ngày 30-8-2018 trả được 15.000.000đ còn nợ lại 52.577.000đ, trong quá trình giải quyết vụ án bà O cũng xác định vợ chồng có nợ tiền Cửa hàng Vật liệu xây dựng Duy T2 số tiền 50.000.000đ, khi ly hôn tự thoả thuận, trả dần mỗi tháng. Nay ông T2 có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập và xác định nợ trên là nợ chung của vợ chồng ông T, bà O vì năm 2017 vợ chồng ông T, bà O có mua vật liệu xây dựng của ông để xây nhà ở thôn L, xã G, quá trình mua bán đã trả cho ông 15.000.000đ vào năm 2018 còn nợ lại 52.577.000đ, số tiền trên từ đó đến nay vợ chồng ông T không trả. Nay ông T2 khởi kiện buộc ông T, bà O thanh toán trả số nợ trên, không yêu cầu tính lãi thì có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những phân tích trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn T1, buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Hoàng O có trách nhiệm thanh toán trả cho ông Đỗ Văn T1 số tiền 52.577.000đ.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm c khoản 2 Điều 217; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 430; Điều 434; Điều 440; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng O về việc xin ly Hôn với ông Nguyễn Minh T.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn T1 về việc khởi kiện yêu cầu độc lập, buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Hoàng O có trách nhiệm thanh toán trả cho ông Đỗ Văn T1 số tiền 52.577.000đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán của số tiền còn phải thi hành án thì phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.Về án phí: Sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà Nguyễn Hoàng O đã nộp theo biên lai thu số 0005670 ngày 22-3-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Hoàng O phải chịu 2.628.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Đỗ Văn T1 số tiền 1.314.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005693 ngày 02-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA K' My Na |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
