Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 61/2024/HS-PT

Ngày 05-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Ông Lê Quang Toại.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Bị cáo bị kháng nghị:

1. Ba Xuân B, sinh ngày 20/6/1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố A, Phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ba Xuân L (đã chết) và bà Cao Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 16/8/2022 bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 183/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000đồng.

Nhân thân:

  • Ngày 17/8/2022 bị Ủy ban nhân dân phường N áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 409/QĐ-UBND;
  • Ngày 19/9/2022 bị Ủy ban nhân dân phường N áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 441/QĐ-UBND.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2023 đến ngày 30/6/2023 hủy bỏ biện pháp tạm giam; ngày 30/6/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Đình C, sinh ngày 12/10/1985 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hùng D và bà Nguyễn Thị P; Vợ: Trần Thị Lệ H1, có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 22/6/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ (nay là thị xã Đ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Quyết định số: 2547/QĐ-UBND với lý do: Đối tượng hút chích ma túy.
  • Ngày 06/8/2023 bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” bằng hình thức phạt tiền, số tiền 8.000.000đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

3. Nguyễn Phương N, sinh ngày 05/3/1978 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố E, Phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đề Á; vợ: Đã ly hôn; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013; tiền án: Không.

Tiền sự: Có 03 tiền sự:

  • Ngày 15/8/2022 bị Ủy ban nhân dân phường N áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 408/QĐ-UBND.
  • Ngày 15/8/2022 bị Công an phường N, thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000đồng.
  • Ngày 21/9/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

  • Ngày 15/3/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đ) xử phạt 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đã chấp hành xong bản án.
  • Ngày 13/9/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố H xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Đã chấp hành xong bản án.
  • Ngày 24/7/2023 bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ (nỏ) dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền số tiền 5.500.000đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Quang Q, sinh ngày 28/01/1989 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố B, Phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh C1 và bà Nguyễn Thị N1; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến ngày 04/01/2024 thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Quang Q: Ông Đoàn Nhật N2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q.

Địa chỉ: Số F, đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/02/2023, Ba Xuân B đang trên đường đi giao hàng khi đến đường Phạm Văn Đ, đoạn trước Bộ chỉ huy Quân sự thị xã Đ thì gặp Nguyễn Quang Q. Quyền hỏi B “Có gì vui không” (tức là có ma tuý để sử dụng không) thì B hiểu ý nên trả lời “kiếm chỗ nào chơi tí”. Sau đó Q điều khiển xe đi trước, B đi sau, cả hai cùng đi đến khu nghĩa địa thuộc tổ dân phố B, phường P, thị xã Đ. Khi đến giữa hai ngôi mộ có mái che, B và Q đi vào ngồi giữa hai ngôi mộ. B lấy cái nỏ (bộ D1 sử dụng ma tuý đá) có chứa sẵn ma tuý đá để xuống nền của ngôi mộ thì Q lấy nỏ lên đốt và hút ma tuý. Quyền và B luân phiên nhau hút mỗi người khoảng hai đến ba hơi ma tuý đá, hút xong Quyền cất cái nỏ ra phía sau tấm bia mộ. Sau đó, B lấy từ trong túi quần đang mặc trên người một đoạn ống hút màu xanh bên trong có chứa ma tuý Heroine ra, đổ một ít ma tuý lên tờ giấy bạc rồi đốt lên và dùng tờ tiền 1.000đồng đã được cuộn tròn sẵn để vào miệng hút. B và Q cùng luân phiên nhau hút ma tuý Heroine.

Đến khoảng 16 giờ 05 phút cùng ngày, khi B cùng Q đang sử dụng ma tuý thì có Võ Đình C điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Phương N đi đến vị trí mà B và Q đang ngồi, khi đến N có cầm theo một chai nhựa có gắn ống thuỷ tỉnh đã bị ám khói (bộ D1 sử dụng ma tuý) nhưng thấy có cái nỏ để ở sau tấm bia mộ nên N hỏi B “cho mượn bộ đồ nghề" (tức là mượn bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý) thì B nói “đó lấy đi" nên Q lấy bình gắn nỏ của B đưa cho N, N đốt lên hút hết rồi đưa qua cho C, C lấy một đoạn ống hút có chứa ma tuý đá trong túi quần ra và đổ ma tuý vào cái nỏ (nỏ của B). Sau khi đổ ma tuý vào nỏ thì N, C cùng luân phiên nhau đốt và hút ma tuý nhưng không đưa cho Q sử dụng nên B nói với N: “Tim cho Q chơi với” (nghĩa là cho Q cùng sử dụng ma túy), lúc này N đưa bộ dụng cụ cho Q sử dụng, sử dụng xong đến C, N cùng luân phiên nhau sử dụng. Sau đó thì Q đi về trước, N đi qua vị trí của Q ngồi, C và N tiếp tục ngồi sử dụng ma tuý, B ngồi bấm điện thoại. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an thị xã Đ phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ba Xuân B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Qua xét nghiệm nước tiểu của Ba Xuân B, Võ Đình C, Nguyễn Phương N và Nguyễn Quang Q thể hiện tất cả đều dương tính với ma túy.

Kết luận giám định số 144/KLGĐ-PC09 ngày 10/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

  • Chất rắn màu trắng bên trong đoạn ống hút màu xanh được hàn kín hai đầu thu giữ tại hiện trường của Ba Xuân B được đựng trong túi niêm phong PS3 2115355 gửi giám định là ma tuý; loại: Heroine (hay Heroinee; Diacetylmorphine); khối lượng: 0,11 gam;
  • Chất rắn màu trắng bên trong 01 túi ni lông màu trắng, 01 gói giấy màu vàng và 02 túi ni lông gói tờ giấy bạc thu giữ tại hiện trường của Ba Xuân B đựng trong túi niêm phong PS3 2115355 gửi giám định là ma tuý; loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,50 gam;
  • Chất rắn màu trắng, nâu bám dính trong ống thuỷ tinh thu giữ tại hiện trường của Ba Xuân B đựng trong túi niêm phong mã số NS2 2107698 gửi giám định là ma tuý; loại: Methamphetamine. Do chất bám dính ở dạng vết nên không cân khối lượng;
  • Chất rắn màu trắng, nâu bám dính trong ống thuỷ tinh đựng trong túi niêm phong mã số PS3 215357 thu giữ tại hiện trường của Ba Xuân B gửi giám định là ma tuý; loại: Methamphetamine. Do chất bám dính ở dạng vết nên không cân khối lượng;
  • Chất rắn màu trắng, nâu bám dính trong ống thuỷ tinh đựng trong túi niêm phong mã số PS3 215357 thu giữ tại hiện trường của Nguyễn Phương N gửi giám định là ma tuý; loại: Metthamphetamine. Do chất bám dính ở dạng vết nên không cân khối lượng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuyên bố: Bị cáo Ba Xuân B, Võ Đình C, Nguyễn Phương N, Nguyễn Quang Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ba Xuân B 08 (T) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/02/2024, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2023 đến ngày 30/6/2023.

Xử phạt bị cáo Võ Đình C 08 (T) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (Ngày 02/10/2023).

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (Ngày 03/10/2023).

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Q 07 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến ngày 04/01/2024.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi kháng nghị toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi để điều tra lại theo thủ tục chung do có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định kháng nghị.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Ngày 02/02/2023 các bị cáo Ba Xuân B, Võ Đình C, Nguyễn Phương N và Nguyễn Quang Q đã thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại khu nghĩa địa, thuộc tổ dân phố B, phường P, thị xã Đ. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử các bị cáo Ba Xuân B, Võ Đình C, Nguyễn Phương N và Nguyễn Quang Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Ba Xuân B thừa nhận số ma túy thu giữ tại hiện trường là của bị cáo B, toàn bộ số ma túy trên được Ba Xuân B cất giấu trong người, khi phát hiện Công an đến thì B ném xuống đất giữa 02 ngôi mộ. Tại giai đoạn điều tra các bị cáo khai: B và Q đã sử dụng xong ma túy đá trong nỏ của B và chuyển sang sử dụng ma túy loại heroin, khi N và C đến thì B và Q đang sử dụng ma túy heroin. Sau khi sử dụng xong ma túy heroin thì B không sử dụng nữa mà ngồi bấm điện thoại. N, C và Q tiếp tục sử dụng ma túy đá do C bỏ vào nỏ mượn của B nhưng B không sử dụng, sau đó Q về trước. N và C sử dụng hết ma túy đá trong nỏ do C bỏ ma túy vào thì bị Công an bắt quả tang.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Võ Đình C, Nguyễn Phương N và Nguyễn Quang Q đều xác định không biết Ba Xuân B có số ma túy trên và cũng không có trao đổi, bàn bạc gì với Ba Xuân B về việc sẽ tiếp tục sử dụng số ma túy. Đồng thời, số ma túy thu giữ tại hiện trường được hàn kín trong túi nilong và đoạn ống hút, không phải là ma túy còn lại trên các dụng cụ sử dụng ma túy trên nên đây không phải là số ma túy còn lại mà các bị cáo sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 02/02/2023. Do đó, việc Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ xác định đây là số ma túy còn lại sau khi sử dụng và các bị cáo có ý định tiếp tục sử dụng là không có cơ sở.

Ngoài ra, tài liệu về nhân thân, tiền sự của các bị cáo Ba Xuân B, Nguyễn Phương N, Võ Đình C còn nhiều thiếu sót, cấp sơ thẩm chưa làm rõ. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Phương N chưa được xác minh.

Đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi để điều tra lại theo thủ tục chung do có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội và khắc phục các sai sót trong thủ tục tố tụng.

Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Đoàn Nhật N2 bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Quang Q:

Số ma túy mà bị cáo Nguyễn Quang Q sử dụng là từ bị cáo Ba Xuân B, số ma túy này Q không góp tiền mà là được thụ hưởng từ bị cáo B. Sau khi có bị cáo Nguyễn Phương N và bị cáo Nguyễn Đình C2 đến và Q tiếp tục được thụ hưởng ma túy từ bị cáo N và C2, bị cáo Q cũng không góp tiền mà chỉ là người được thụ hưởng ma túy từ các bị cáo B, N và C2.

Bị cáo Nguyễn Quang Q có hành động lấy cái bình gắn nỏ của bị cáo Ba Xuân B đưa cho bị cáo Nguyễn Phương N khi bị cáo N hỏi bị cáo Ba Xuân B “Cho mượn bộ đồ nghề". Hành vi này cũng không phải là hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện theo sự phân công của người tổ chức. Bởi bị cáo Ba Xuân B cũng không yêu cầu bị cáo Nguyễn Quang Q đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho bị cáo N và việc bị cáo Q có đưa bộ dụng cụ này cho bị cáo N hay không cũng không ảnh hưởng đến mục đích của bị cáo N. Hành vi đưa cái bình gắn nỏ cho bị cáo N chỉ là tiện tay và nếu bị cáo Q không đưa thì bị cáo N vẫn lấy và sử dụng bình thường.

Chính vì thế hành vi của bị cáo Nguyễn Quang Q trong vụ án này chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại và làm rõ hành vi của bị cáo Nguyễn Quang Q có phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đối với bị cáo Ba Xuân B: Hồ sơ vụ án đã thu thập đầy đủ tài liệu thể hiện tiền sự của Ba Xuân B. Tuy nhiên, trích lục tiền án, tiền sự của Ba Xuân B lập ngày 03/3/2023 lại thể hiện Ba Xuân B không có tiền án, tiền sự trong tàng thư, cơ sở dữ liệu do Phòng hồ sơ nghiệp vụ quản lý.

Đối với bị cáo Võ Đình C: Lý lịch bị can lập ngày 02/10/2023 thì chỉ thể hiện năm 2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ (Nay là thị xã Đ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, không thể hiện thông tin ngày 06/8/2023 bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” bằng hình thức phạt tiền, số tiền 8.000.000đồng.

Đối với bị cáo Nguyễn Phương N: Tại Lý lịch bị can lập ngày 02/10/2023 thể hiện ngày 26/4/1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội gây rối trật tự công cộng. Tại Trích lục tiền án tiền sự lập ngày 16/10/2023 thể hiện “Ngày 17/6/1994, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử án treo 6 tháng theo bản án số 32/HSPT”, cấp sơ thẩm chỉ thu thập Bản án hình sự phúc thẩm số 24/HSPT ngày 22/4/1999, tuy nhiên bị cáo N không kháng cáo nên bản án phúc thẩm không có nội dung quyết định hình phạt đối với bị cáo N, do vậy bị cáo N phải chấp hành bản án sơ thẩm nhưng cấp sơ thẩm không thu thập bản án sơ thẩm. Ngoài ra, cấp sơ thẩm chưa làm rõ bị cáo bị xử phạt về tội gây rối trật tự công cộng vào năm nào? (Năm 1994 theo bản án số 32/HSPT hay năm 1999 theo bản án số 24/HSPT).

Ngoài ra, Trích lục tiền án, tiền sự không thể hiện các lần bị xử lý hành chính khác của bị cáo N như lý lịch bị can và tài liệu trong hồ sơ đã thu thập được. Lý lịch bị can không thể hiện: “Ngày 15/8/2022 bị Công an phường N, thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2] Hành vi của các bị cáo:

Chiều tối ngày 02/02/2023, tại khu nghĩa địa, thuộc tổ dân phố B, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, Ba Xuân B là người chuẩn bị và cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy là nỏ dùng để sử dụng ma túy đá cho Nguyễn Phương N, Võ Đình C và Nguyễn Quang Q; B còn sử dụng tờ tiền 1.000đồng cuốn tròn để sử dụng ma túy Heroine cho Nguyễn Quang Q, cung cấp ma túy cho Nguyễn Quang Q sử dụng; Võ Đình C là người rủ Nguyễn Phương N sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp ma túy cho Nguyễn Phương N và Nguyễn Quang Q sử dụng; Nguyễn Phương N là người chuẩn bị bộ dụng cụ nhằm mục đích sử dụng ma túy, nhưng khi đến khu vực nghĩa địa, do thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình mang theo đã bị đen và nhìn thấy cái nỏ của Ba Xuân B để sau tấm bia mộ nên đã mượn bộ dụng cụ sử dụng ma túy của B để sử dụng chất ma túy với Võ Đình C và Nguyễn Quang Q; Nguyễn Quang Q giúp cho Ba Xuân B đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy của B cho N mượn để cùng với Nguyễn Phương N và Võ Đình C tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bằng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã mượn của B.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn lôi kéo người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính những người sử dụng trái phép chất ma túy và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi phạm tội khác.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Ba Xuân B, Võ Đình C, Nguyễn Phương N và Nguyễn Quang Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Phương N:

Theo đơn yêu cầu giảm nhẹ mức án cho con trai Nguyễn Phương N của bà Nguyễn Thị Đề Á và tài liệu kèm theo thể hiện: Bà Á có cha và mẹ là ông Nguyễn T1 và bà Lê Thị C3 là người có công với Cách mạng nhưng Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ chưa yêu cầu bà Á xác nhận quan hệ thân nhân giữa ông Nguyễn T1 và bà Lê Thị C3 đối với bị cáo Nguyễn Phương N để xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là thiếu sót.

[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02/02/2023, B khai nhận: “Lúc Q vừa về thì có mấy người chạy đến nên tôi lấy túi ni lông ở trong túi áo khoát, bên trong chứa các túi ma túy đá và heroin ném xuống giữa hai ngôi mộ”.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm ngày 11/3/2024, bị cáo Ba Xuân B thừa nhận số ma túy thu giữ tại hiện trường là của bị cáo B. Theo kết quả giám định xác định: Số ma túy thu giữ của B là ma tuý, loại: Heroine, khối lượng: 0,11 gam và Methamphetamine, khối lượng: 0,50 gam. Toàn bộ số ma túy trên được Ba Xuân B cất giấu trong người.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Võ Đình C, Nguyễn Phương N và Nguyễn Quang Q đều xác định không biết Ba Xuân B có số ma túy trên và cũng không có trao đổi, bàn bạc gì với Ba Xuân B về việc sẽ tiếp tục sử dụng số ma túy trên nên đây không phải là số ma túy còn lại mà các bị cáo sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 02/02/2023. Ngoài ra, số ma túy thu giữ tại hiện trường được hàn kín trong túi nilong và đoạn ống hút, không phải là ma túy còn lại trên các dụng cụ sử dụng ma túy.

Do đó, hành vi cất giấu số ma túy còn lại của Ba Xuân B có dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[5] Xét thấy có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị số 352/QĐ-VKS ngày 09/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi để điều tra lại theo thủ tục chung.

Đối với các thiếu sót về nhân thân, lý lịch, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo chưa được xác minh, điều tra làm rõ như nhận định tại mục [1], mục [3] của bản án này, cấp sơ thẩm cần khắc phục trong quá trình điều tra lại.

[6] Ngày 05/12/2023, Tòa án cấp sơ thẩm đã Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm rõ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Ba Xuân B nhưng không được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ thực hiện mà giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ nhận định đây là số ma túy còn lại sau khi sử dụng và các bị cáo có ý định tiếp tục sử dụng. Tuy nhiên, nhận định này là không có cơ sở.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ tiếp tục điều tra, khởi tố đối với Ba Xuân B. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy không có lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Đề nghị của người bào chữa không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 352/QĐ-VKS ngày 09/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi để điều tra lại theo thủ tục chung.

2. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND, TAND thị xã Đức Phổ;
  • - Công an thị xã Đức Phổ;
  • - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Năm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự phúc thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 61/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ba Xuân B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger