|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 03 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thắng; ông Hồ Quang Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thúy Vân- Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Thanh Sang- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với:
* Bị cáo: Nguyễn Bé L, sinh năm 1982; tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Khóm F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Nguyễn Văn D (đã chết); Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Anh chị em ruột có 07 người (lớn nhất 56 tuổi, nhỏ nhất sinh năm 1984); chồng: Phạm Văn L1, sinh năm 1984 (chưa đăng ký kết hôn); Con: 02 người (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2020); Tiền án; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024 chuyển tạm giam đến ngày 27/4/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lãnh cho tại ngoại đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Bé L hằng ngày làm công việc nội trợ gia đình, đồng thời nhận nuôi ngư phủ tại nhà L thuộc khóm F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau và giới thiệu ghe cho ngư phủ đi biển. Khi nào có ghe ra biển thì L giới thiệu ngư phủ cho chủ ghe, nếu chủ ghe đồng ý nhận ngư phủ, thì khi ngư phủ xuống ghe đi, chủ ghe sẽ cho mỗi ngư phủ ứng số tiền 30 triệu đồng và L là người đứng ra nhận số tiền này từ chủ ghe. Sau khi nhận tiền từ chủ ghe, L sẽ trừ đi tiền chi phí Lếnh nuôi ngư phủ trong thời gian chờ ra ghe là 3 triệu đồng/ngư phủ, số còn lại nếu ngư phủ nhờ gửi về cho gia đình thì L sẽ gửi, còn không thì L giữ hộ để mua đồ dùng cá nhân gửi ra cho ngư phủ hoặc khi nào ngư phủ vào bờ sẽ đưa lại cho ngư phủ. Ngoài ra mỗi một ngư phủ được L giơi thiệu thì được chủ ghe trả tiền công cho L 1 triệu đồng.
Giữa Lếnh với Lê Bích P, sinh năm 1974, ngụ: Khóm C, phường D, thành phố C; Cao Thị V (T), sinh năm 1976, ngụ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang và 05 người phụ nữ tên Mỹ N1, T1, H, O và Bé B (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) quen biết nhau, P, V, Mỹ N1, T1, H, O và B1 Ba cùng L bàn bạc với nhau, nếu ngư phủ ở nhà L có nhu cầu mua dâm, thì L giơi thiệu P, V, Mỹ N1, T1, H, O và Bé B đi bán dâm cho ngư phủ. Lếnh và gái bán dâm thỏa thuận giá bán dâm mỗi đêm là 1 triệu đồng đến 1, 2 triệu đồng, còn mua dâm 01 lần (không qua đêm) giá 500 nghìn đồng. Nếu mỗi lần bán dâm được 1 triệu đồng thì sẽ cho Lếnh 200 ngàn đồng tiền công môi giới, tiền bán dâm ngư phủ không trả trực tiếp cho gái bán dâm mà L đứng ra lãnh, khi nào ngư phủ ra ghe sẽ ứng tiền chủ ghe đưa cho L, L đưa lại gái bán dâm. Mục đích môi giới mại dâm là vì L có nuôi nhiều ngư phủ có nhu cầu mua dâm nên L giới thiệu để giữ chân ngư phủ ở lại chỗ L để L lấy tiền công nuôi ngư phủ ăn, uống và khi giới thiệu ngư phủ ra ghe thì được chủ ghe cho tiền công giới thiệu. Địa điểm mua bán dâm là nhà nghỉ K và phòng trọ của một số gái mại dâm.
Khoảng 10 giờ ngày 09/01/2024, Trương Tú E là ngư phủ mới đi biển vào bờ đến nhà L chơi, lúc này Châu Văn Đ là ngư phủ cũng ở nhà L, tú Em và Điều tổ chức nhậu. Trong lúc nhậu có Lê Thị Bích P1 đến nhà L chơi một lúc rồi đi về nhà trọ của P1 gần đó. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Tú E nãy sinh ý định tìm gái bán dâm để mua dâm nên nhờ L giới thiệu P1 cho Tú E mua dâm thì L đồng ý. Sau đó L gọi điện thoại cho P1 đi bán dâm cho Tú E thì P1 đồng ý và thỏa thuận giá bán dâm là 1 triệu đồng/đêm. Đến khoản 21 giờ cùng ngày, L sử dụng số điện thoại 0917.711.xxx gọi vào số điện thoại 0941.881.xxx của P1 kêu P1 đến nhà nghỉ G (K) mà L đã liên hệ với ông Huỳnh Chí V1 là chủ nhà trọ đặt phòng để P1 bán dâm cho Tú E. Sau đó P1 đi bộ đến nhà L cùng Tú E đi đến nhà nghĩ Khánh B2 vào phòng 05 thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau 02 lần. Đến sáng ngày 10/01/2024, Tú E đi về nhà L, còn P1 đi về phòng trọ của P1, tiền mua dâm Tú E chưa trả cho P1. Khi về nhà Lếnh Tú E nói ngủ với P1 01 đêm 1 triệu đồng thì Tú E bao P1 cho đến khi ra ghe ứng tiền trả đưa L trả cho P1 thì L đồng ý.
Khoảng 22 giờ ngày 10/01/2024, P1 đi đến nhà L gặp Tú E rồi cả hai đi đến nhà nghỉ K tiếp tục thuê phòng số 05 thực hiện hành vi mua bán dâm 01 lần. Sáng ngày 11/01/2024 Tú E và P1 trả phòng ra về. Tú E nói với chủ nhà nghỉ khi nào ra ghe thì L trả tiền phòng. Khi về Tú E nói với L đã trả phòng nghỉ về phòng trọ P1 ngủ cho đở tốn tiền.
Khoảng 12 giờ, ngày 11/01/2024, Tú E và Điều nhậu tại nhà L, Điều muốn tìm gái bán dâm để mua dâm, nên nhờ L tìm gái bán dâm cho Điều thì L đồng ý. Sau đó L dùng số điện thoại 0348.742.xxx gọi vào số điện thoại 0379.977.xxx của Cao Thị V (T) kêu Vủ tối lại phòng trọ của P1 bán dâm cho Đ thì V đồng ý và thỏa thuận giá bán dâm là 1 triệu đồng/đêm. Sau khi gọi cho V xong L nói với Đ tối lại phòng trọ của P1 rồi vủ đến bán dâm cho Đ, tiền mua dâm khi nào Điều ra ghe Lếnh sẽ ứng tiền chủ ghe trả cho V, thì Đ đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Tú E muốn mua dâm P1 nên kêu L gọi điện cho P1 hỏi P1 có nhà không để Tú E đến nhà P1 mua bán dâm với P1. Sau khi gọi cho P1 xong, L nói với Tú E là P1 đang ở nhà. Lúc này Tú E đi một mình đến phòng trọ của P1, sau đó Điều và V cũng đến phòng trọ của P1. Tại đây 04 người trò chuyện qua lại với nhau đến 23 giờ, Tú E và P1 vào phòng bên phải, còn Đ và V vào phòng bên trái để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến 00 giờ ngày 12/01/2024, Lực lượng Công an thị trấn S, huyện T kiểm tra hành chính phát hiện lập biên bản mới Tú E, P1, Đ và V làm việc.
Trong quá trình điều tra, L khai nhận đã nhiều lần môi giới cho Lê Thị Bích P1 và Cao Thị V đi bán dâm cho ngủ phủ, cụ thể:
Lần 1: Khoảng tháng 7/2023, L giới thiệu V bán dâm cho ngư phủ Nguyễn Văn L2 (không rỏ địa chỉ) 02 đêm tại phòng trọ của V, tiền bán dâm là 2 triệu đồng, sau đó L2 bỏ trốn nên chưa trả tiền bán dâm cho V.
Lần 2: Sau lần thứ nhất khoảng 04 ngày, L giới thiệu V bán dâm cho Châu Văn Đ 01 đêm tại phòng trọ của V, tiền bán dâm 1 triệu đồng. Sau khi Đ ra ghe Lếnh trả cho Vủ 1 triệu đồng, V cho Lếnh 200.000 đồng.
Lần 3: Ngày 03/01/2024, L giới thiệu P1 bán dâm cho N2 (không rỏ địa chỉ) 01 đêm tại nhà trọ của P1, tiền bán dâm 1,1 triệu đồng, P1 cho con của Lếnh 200.000 đồng.
Lần 4: Ngày 05/01/2024, L tiếp tục giới thiệu P1 bán dâm cho L3 lùn (không rỏ địa chỉ) 01 đêm tại nhà trọ của P1, tiền bán dâm 1 triệu đồng, P1 cho L 200.000 đồng.
Như vậy, tổng cộng L đã môi giới cho P1 và Cao Thị V (T) bán dâm cho ngư phủ 08 lần, hưởng lợi bất chính số tiền 600.000 đồng. Trong đó ngày 11/01/2024, cùng một lúc Lếnh môi giới cho 02 người (P1, V) bán dâm cho Tú E và Điều.
- Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0917711412 và 0348742312 (của L); 01 điện thoại di động hiệu Realme C21Y màu xanh, gắn sim số 0941881449 (của P1); 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ, gắn sim số 0379977933 và 0913089786 (của V); 01 điện thoại di động Coolpal màu xanh gắn sim số 0941644687 (của Tú E); 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng gắn sim số 0949540693 (của Điều). Ngoài ra, có thu giữ 01 lốc lịch, mặt trước có chữ “Chúc mừng năm mới Nhâm Dần”, mặt sau có chữ “Lịch Look Đại 2022, nhóm lịch Hồ N”, bên trong có một số tờ lịch có ghi nhiều chữ viết, chữ số, được đánh số thứ tự từ 01 đến 37 có chữ ký và họ tên Nguyễn Bé L đang được lưu giữ theo hồ sơ.
*/ Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Nguyễn Bé L về tội "Môi giới mại dâm" theo điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, không oan sai; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai; không ai ép cung, móm cung gì đối với bị cáo.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm luận tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bé L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng d, đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Bé L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù giam. Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0917711412 và 0348742312 (của L); 01 điện thoại di động hiệu Realme C21Y màu xanh, gắn sim số 0941881449 (của P1); 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ, gắn sim số 0379977933 và 0913089786 (của V). Buộc bị cáo phải nộp số tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng; Trả lại cho ông Trương Tú E 01 điện thoại di động Coolpal màu xanh gắng sim số 0941644687 và ông Châu Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng gắn sim số 0949540693.
Bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của vị Đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sóm về gia đình do bị hiện có con nhỏ và mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T2, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa và thảo luận nghị án của HĐXX cho thấy đã có đủ cơ sở để kết luận diễn biến nội dung vụ án như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời mô tả và truy tố. Bị cáo Nguyễn Bé L đã thừa nhận vào các ngày 09 và 10/01/2024 có hành vi môi giới mai dâm cho Lê Thị Bích P1 bán dâm cho Trương Tú E tại nhà nghỉ K thuộc khóm F, thị trấn S, huyện T và ngày 11/01/2024 có hành vi môi giới mại dâm cho Lê Thị Bích P1 bán dâm cho Trương Tú E và Cao Thị V (T) bán dâm cho Châu Văn Đ tại phòng trọ của P1 thuộc khóm F, thị trấn S thì bị lực lượng Công an thị trấn S kiểm tra hành chính phát hiện lập biên bản vào rạng sáng ngày 12/01/2024. Ngoài những lần vi phạm như đã nêu trên. Quá trình điều tra còn chứng minh được bị cáo đã nhiều lần mối giới mại dâm cho Lê Thị Bích P1, Cao Thị V bán dâm cho các đối tượng khác để thu lợi cho bị cáo số tiền 600.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bán dâm, người mua dâm và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ.
Như vậy đã có đầy đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Bé L đã phạm tội “Môi giới mại dâm”. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và thuộc trường hợp đối với hai người trở lên theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T2 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, nếp sống văn minh. Hành vi đó gây mất an ninh trật tự trị an ở địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội, là nguyên nhân dẫn đến việc lây lan các căn bệnh xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cho bản thân bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo biết ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, thật thà nhận tội, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có cha ruột là thương binh hạng 3/4, bản thân chưa tiền án tiền sự và hiện có bệnh thoái hóa khớp gối, có con nhỏ và mẹ già nên xem đây là những tình tiết làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về các biện pháp tư pháp: Trong việc giới thiệu gái mại dâm bị cáo có thu lợi bất chính do gái mại dâm đưa cho bị cáo 600.000 đồng để nộp Ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0917711412 và 0348742312 (của L); 01 điện thoại di động hiệu Realme C21Y màu xanh, gắn sim số 0941881449 (của P1); 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ, gắn sim số 0379977933 và 0913089786 (của V). Xét thấy, bị cáo và các đối tượng mua bán dâm sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động Coolpal màu xanh gắn sim số 0941644687 (của Tú E) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng gắn sim số 0949540693 (của Điều). Quá trình điều tra pháp luật không quy định hành vi của Tú E và Đ là tội phạm nên trả lại cho Tú E và Điều.
Đối với 01 lốc lịch, mặt trước có chữ “Chúc mừng năm mới Nhâm Dần”, mặt sau có chữ “Lịch Look Đại 2022, nhóm lịch Hồ N”, bên trong có một số tờ lịch có ghi nhiều chữ viết, chữ số, được đánh số thứ tự từ 01 đến 37 có chữ ký và họ tên Nguyễn Bé L. Xét thấy, đây là tài liệu để giám định được đính trong hồ sơ vụ án nên được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
[7.1] Đối với Châu Văn Đ và Trương Tú E, Lê Thị Bích P1 và Cao Thị V (T3). Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hành vi mua bán dâm.
[7.2] Đối với hành vi của Lê Thị Bích P1 cho Đ và V thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng trọ của P1 vào đêm ngày 11/01/2024 là do L kêu Điều và V đến, P1 nghĩ V và Đ là người yêu của nhau không biết L kêu Đ và V đến để mua bán dâm nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự P1.
[7.3] Đối với Huỳnh Chí V1 là chủ nhà nghỉ K khi L gọi điện thoại đặc phòng cho gái bán dâm và ngư phủ thực hiện hành vi mua bán dâm thì L và V không có thỏa thuận bàn bạc trước với nhau về việc mua bán dâm nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với chủ nhà nghỉ.
[7.4] Đối với Trần Thanh N3 chủ nhà trọ cho P1 thuê phòng ở trọ. P1 dùng địa điểm thực hiện hành vi mua bán dâm, ông N3 không biết nên không có căn cứ xử lý đối với ông N3.
[7.5] Ngoài ra, L còn khai nhận trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến ngày 11/01/2024 đã nhiều lần môi giới cho các gái bán dâm tên H, T1, Mỹ N1, O và bé B bán cho Châu Văn Đ, Trương Tú E và một số ngư phủ khác. Đây chỉ là lời khai duy nhất của L. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của gái bán dâm và người mua dâm, riếng Điều và Tú E đã bỏ trốn nên không đủ căn cứ xử lý bị cáo về hành vi những lần này.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bé L phạm tội "Môi giới mại dâm".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bé L 03 (Ba) năm tù giam. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Được đối trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 27/4/2024.
2. Áp dụng các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
- - Buộc bị cáo phải nộp tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
- - Tuyên bố tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0917711412 và 0348742312 (của L); 01 điện thoại di động hiệu Realme C21Y màu xanh, gắn sim số 0941881449 (của P1); 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ, gắn sim số 0379977933 và 0913089786 (của V).
- - Trả lại cho ông Trương Tú E 01 điện thoại di động Coolpal màu xanh gắn sim số 0941644687.
- - Trả lại cho ông Châu Văn Đ 01 điện thoại di đọng hiệu Oppo màu vàng gắn sim số 0949540693.
- -Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 lốc lịch, mặt trước có chữ “Chúc mừng năm mới Nhâm Dần”, mặt sau có chữ “Lịch Look Đại 2022, nhóm lịch Hồ N”, bên trong có một số tờ lịch có ghi nhiều chữ viết, chữ số, được đánh số thứ tự từ 01 đến 37.
(Các vật chứng trên hiện chi cục thi hành án dân sự quản lý theo biên bản giao nhận ngày 17/5/2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Bé L phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (chưa nộp).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về môi giới mại dâm
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bé Lếnh môi giới mại dâm
