Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:61/2024/HSST

Ngày 03/5/2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Ngọc Côn;
  2. Ông Giáp Văn Phẩm.

- Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST - HS ngày 19/4/2024 đối với bị cáo:

Lê Thị P, sinh năm 1988, tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Khắc C và bà Lê Thị T; Chồng: Nguyễn Văn T1; Con: Có ba con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”.

Bị hại:

Anh Triệu Văn Đ, sinh ngày 16/3/2007, trú tại thôn B, xã T, huyện L “đã chết”.

Đại diện hợp pháp cho bị hại:

  1. Chị Vi Thị L, sinh năm 1979 “có mặt”.
  2. Anh Triệu Văn S, sinh năm 1978 “có mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị P, sinh năm 1988, trú tại thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã có giấy phép lái xe hạng B1do Sở G cấp ngày 08/12/2020. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 17/9/2023, P điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển kiểm soát 98A-46305 đi từ xã P, huyện L theo đường Q, hướng đi thị trấn C để đi xã N, huyện L. Khoảng 14 giờ cùng ngày, P điều khiển xe ô tô đến đoạn đường ngã tư bờ hồ thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, nơi có đèn tín hiệu giao thông đang hoạt động. Lúc này đèn tín hiệu giao thông đang báo hiệu đèn xanh,P bật đèn xi nhan rẽ tráirồiđiều khiển xe chuyển hướng rẽ trái để rẽ vào đường đi xã N,do khi chuyển hướng P không quan sát thấy phía trước ngược chiều trên Quốc lộ C, hướng thành phố B đi huyện S có xe mô tô nhãn hiệu Vetstar không gắn biển kiểm soát do anh Triệu Văn Đ, sinh ngày 16/3/2007, trú tại thôn B, xã T, huyện L điều khiển đi đến. Khi P điều khiển xe ô tô chuyển hướng đến khu vực giao nhau giữa đường Quốc lộ 31 với đường đi xã N thì đã va chạm với xe mô tô do anh Triệu Văn Đ điều khiển làm xe mô tô bị đổ nghiên bên phải, anh Đ1 xuống đường, bị thương P cùng người dân đưa đi cấp cứu. Do thương tích nặng nên ngày 22/10/2023 anh Đ đã tử vong.

Ngay sau khi xảy tai nạn, Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn. Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn tại Km 39+900 QL31, thuộc thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại hiện trường phát hiện 01 xe ô tô biển số 98A-463.05; 01 xe mô tô không biển số; vết cày xước kích thước (60x3,60)m; đám mảnh vỡ kích thước (8,90x6,20)m. Lấy hướng Bắc Giang đi S làm hướng xác định hiện trường; lấy mép vạch kẻ sơn liền màu trắng bên trái làm chuẩn; lấy cột điện 3.14MK làm mốc. Vết cày xước kích thước (60x3,60)m ký hiệu (Số A) có hướng thị trấn C đi N, điểm đầu vào mép đường là 6,68m, điểm cuối vào mép đường là 6,62m. Xe ô tô biển số 98A-463.05 ký hiệu (số B): Khoảng cách từ trục sau xe ô tô vào mép đường là 5,40m; trục trước xe ô tô vào mép đường là 5,20m; trục trước bên lái đến mốc là 8,46m; trục trước bên lái đến tâm đám mảnh vỡ ký hiệu số (4) là 4,60m; trục sau xe ô tô đến mốc là 8,35m; trục trước bên lái đến trục sau xe mô tô là 2,85m; trục trước bên lái đến trục trước xe mô tô là 1,74m. Xe mô tô không biển số ký hiệu (số C): Trục sau (3) vào mép đường là 6,15m; trục trước (3) vào mép đường là 6,61m; trục trước xe (3) vào tâm (4) là 2,80m; trục trước vào mốc là 10.50m. Tiến hành tạm giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 98A-46305; 01 giấy phép lái xe hạng B1 số [...] mang tên Lê Thị P do Sở G cấp ngày 08/12/2020; 01 xe mô tô mô tô nhãn hiệu Vetstar không gắn biển kiểm soát do Triệu Văn Đ điều khiển.

Cùng ngày 17/9/2023, Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn của anh Triệu Văn ĐLê Thị P. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đều là 0,000mg/L.

Ngày 22/10/2023, sau khi anh Đ tử vong, Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện kiểm sát tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn. Kết quả dựng lại hiện trường như sau: Hiện trường là ngã tư QL 31 đi sang hai hướng xã N và Trường THPT L1 số 1, hướng rẽ đi xã N mặt đường dải nhựa áp Phan, điểm rộng nhất đoạn đường đi N là 41,2m; chiều rộng lòng đường QL31 khu vực xảy ra tai nạn là 13m, có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng từ đường QL 31 vào đường hướng đi N. Vị trí vạch kẻ đứt đoạn ở giữa đường. Khu vực ngã tư xảy ra tai nạn có đèn B. Tại vị trí số 01 được xác định là xe ô tô biển số 98A-46305. Tại vị trí số 02 được xác định là xe mô tô không gắn biển số. Xác định điểm mốc và mép đường chuẩn như sau:Lấy mép đường chuẩn phải của Quốc lộ C theo chiều Bắc Giang đi S làm chuẩn; lấy cột điện ký hiệu 314/MK làm mốc.Tại vị trí số 01 là xe ô tô biển số 98A-46305 trong trạng thái đỗ, đầu xe hướng đi N, đuôi xe hướng Quốc lộ C. Trục sau bên trái xe cách mép chuẩn 30cm, trục sau bên phải cách mép chuẩn 170cm.Tại vị trí ký hiệu số 02 là xe mô tô không có biển số trong trạng thái đổ nghiêng phải, đầu xe hướng Bắc Giang. Trục sau xe cách mép chuẩn 120 cm; Trục trước xe cách mép chuẩn là 180cm, cách mốc 1050cm, cách trục trước bên phải xe mô tô 210cm.

Kết quả khám nghiệm phương tiện: Ngày 30/10/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hai phương tiện vụ tai nạn.

+Dấu vết trên phương tiện xe ô tô 98A-46305:Nắp capo bị chèn cong, theo chiều hướng từ phải qua trái; từ trên xuống dưới, kích thước (100x80)cm; trên diện chùn cong bám dính chất màu đen;kính chắn gió phía trước bị vỡ phức tạp, tâm vết vỡ cách cột A bên trái 40cm; cách chân kính 20cm,toàn bộ vết vỡ trên diện (120x85)cm; tai xe bên trái chùn cong theo chiều từ phải sang trái kích thước (30x15)cm; ba đờ sốc xe bị vỡ bật rời khỏi vị trí ban đầu; cụm đèn pha bên phải xe bị vỡ trên diện (20x40)cm; tại ba đờ sốc bám dính sơn màu đỏ, kích thước (30x10)cm, bám dính chất màu đen nghi cao su trên diện (11x6)cm; vết chùn cong, kim loại khung xe phía trước (xương đầu), chùn cong theo chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, kích thước (4x3)cm; nối liền vết chùn cong là vết mài trượt vết sơn trên diện (16x1)cm từ phải qua trái; biển số xe phía trước bị gập vào trong.

+Dấu vết trên phương tiện xe mô tô không gắn biển số:Tay nắm bên trái bị mất tay nắm cao su, lộ phần kim loại bên trong; cụm điều khiển còi, đèn, xi nhan bị lệch khỏi vị trí ban đầu theo hướng từ phải qua trái; cụm đen pha và xi nhan phải, trái phía trước bị bật rời; ốp nhựa bảng điều khiển bị bật vỡ rời, bảng điều khiển bị hư hỏng; ốp nhựa đầu bị vỡ phức tạp, có vết trợt, xước theo hướng từ dưới lên trên tại vị trí xi nhan phải kích thước (10x3)cm; tay phanh bên phải bị

gãy, bật rời khỏi vị trí ban đầu; xe không có gương chiếu hậu;giảm sóc hai bên phía trước bị gãy hoàn toàn; dây công tơ mét bị gãy bật rời; bộ chế hóa khí nối với lốc máy bị gãy, rời khỏi bị trí lốc máy; khung xe bị cong theo chiều từ trên xuống dưới, có nhiều vị trí bong tróc sơn, trên diện (11x6)cm; vành xe bánh trước cong vênh, biến dạng, nhiều vị trí cong và gãy bộ nan xe; tại lốp xe bánh trước có vết mài trượt cao su trên diện (4x8)cm; tại vành xe bánh trước, điểm cong nhất cách chân van 22cm, theo chiều hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào tâm trục bánh xe; cổ bô xe bị gãy; toàn bộ cụm đèn hậu và xi nhan phía sau bị bật rời; cần số bị cong theo chiều hướng từ trước về sau, từ trong ra ngoài; ốp sườn bên trái xe bật rời; ốp kim loại bảo vệ nhông xích bị bật rời; khung xe bên trái bị chùn cong, theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải (khung xe nối liền bình xăng).

Ngày 24/10/2023, Lê Thị P giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 98A-46305 mang tên Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981, trú tại thôn M, xã phì Đ2 (chồng của Lê Thị P); 01 Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 98A-46305.

Ngày 22/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với Viện kiểm sát và cơ quan chuyên môn tiến hành khám nghiệm tử thi Triệu Văn Đ.Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Triệu Văn Đ. Tại Bản kết luận giám định số 2280/KL-KTHS ngày 22/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Các kết quả chính:Trên cơ thể của Triệu Văn Đ, có các tổn thương sây sát da, đã đóng và bong vảy, vết mổ cũ đã liền sẹo, vết đặt nội khí quản tập trung tại vùng: Đầu, mặt, cổ và hai chi dưới.Tím vùng hốc mắt trái. Hai lỗ mũi và khoang miệng có dịch đục. Phim CT – Scanner sọ não: Hình ảnh khối máu tụ ngoài màng cứng vùng trán phải, kích thước (73x45)mm, đè đẩy đường giữa sang trái 20mm, chén ép đè xẹp não thất bên phải, tụ khí nội sọ vùng trán phải. Vài ổ đụng dập nhu mô thùy trán hai bên, chảy máu dưới màng cứng vùng trán – thái dương phải dày 10mm. Vỡ xương trán, trần hốc mắt phải, xương mũi, kèm tụ dịch máu đa xoang hàm mặt. Phù nề phần mềm vùng trán phải. Cấy đờm mọc trực khuẩn mủ xanh đa kháng. Chuẩn đoán: Chấn thương sọ não nặng – Viêm phổi. Nguyên nhân chết của Triệu Văn Đ: Chấn thương sọ não không hồi phục trên người có bệnh lý viêm phổi, đa kháng thuốc đã được phẫu thuật sọ não và điều trị 36 ngày.

Ngày 13/3/2024, Cơ quan điều tra có Công văn số 167, đề nghị Phòng K Công an tỉnh B giải thích về kết luận giám định nguyên nhân chết của Triệu Văn Đ. Ngày 26/3/2024, Phòng K Công an tỉnh B có Công văn số 355, trả lời Cơ quan điều tra như sau: Triệu Văn Đ bị “Chấn thương sọ não không hồi phục đã phẫu thuật sọ não và điều trị 36 ngày” là tình trạng bị sang chấn vào đầu gây tổn thương hộp sọ, nhu mô não, mạch máu não, được xử trí phẫu thuật lấy máu tụ, giải toả não, điều trị theo phác đồ mà đáp ứng điều trị, nuôi dưỡng kém, không thể hồi

phục các chức năng sinh lý bình thường của cơ thể dẫn đến tử vong. Trường hợp Triệu Văn Đ chỉ bị chấn thương sọ não không hồi phục và không bị viêm phổi đa kháng thuốc thì vẫn có thể tử vong.

Ngày 09/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, trên phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông đường bộ; vị trí va chạm giữa phương tiện và người trên mặt đường; tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn.Tại bản Kết luận giám định số 2403/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Dấu vết dập vỡ, chùn cong, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất mà nâu, màu đen tại bên phải ba đờ sốc và mặt ca lăng trước, bên phải khung kim loại phần đầu của xe ô tô biển kiểm soát 98A-46305, có chiều hướng từ trước ra sau; phù hợp với dấu vết gãy vỡ, chùn cong, trượt xước cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng, tại lốp và vành bánh trước, giảm sóc trước bên trái của xe mô tô không gắn biểm kiểm soát gửi giám định, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh, từ trước ra sau. Dấu vết chùn cong, trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu nâu tại nắp capo trước của xe ô tô biển kiểm soát 98A-46305, có chiều hướng từ trước ra sau, phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, kim loại tại mặt trước cổ phốt của xe mô tô không gắn biển số, có chiều hướng từ trước ra sau. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98A-46305 với xe mô tô không gắn biển kiểm soát trên mặt đường tại điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 01, thuộc khu vực giao nhau đường Quốc lộ 31 với đường đi xã N. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm va chạm, hai phương tiện trong tư thế đứng, ngược chiều nhau.Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.

Ngày 26/10/2023, Lê Thị P đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 file video được trích xuất từ camera hành trình xe ô tô biển số 98A-46305do Lê Thị P điều khiển ngày 17/9/2023.Ngày 27/10/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định việc cắt ghép và tốc độ qua video do cam hành trình của xe ô tô 98A-46305 ghi lại. Tại Bản Kết luận giám định số 7960 Ngày 22/11/2023, V Bộ C1 kết luận:Không phát hiện thấy dấu vết, cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file mẫu cần giám định.Không xác định được tốc độ của xe ô tô (có gắn camera hành trình) và xe mô tô tại thời điểm va chạm trong file video gửi giám định.

Ngày 13/12/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Lê Thị P và mẹ đẻ của Triệu Văn Đ là bà Vi Thị L, sinh năm 1979, trú tại thôn B, xã T, huyện L xem đoạn video thu giữ từ camera hành trình xe ô tô biển số 98A-46305, kết quả xác định Lê Thị P đánh lái qua trái từ 10 giờ 14 phút 54 giây tới 10 giờ 14 phút 56 giây (đồng hồ hiển thị trên camera hành trình), tín hiệu đèn giao thông màu xanh. Lúc này xe mô tô do anh Đ điều khiển đang đi hướng Bắc Giang - S đang điều khiển đi

ngược chiều với xe mô tô do P điều khiển. Khi xe mô tô của P điều khiển vào khu vực giao nhau giữa Quốc lộ C và đường đi xã N thì xe mô tô do anh Đ điều khiển va vào đầu xe ô tô bên phải do P điều khiển (thời gian hiển thị là 10 giờ 14 phút 58 giây.

Ngày 10/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại của các phương tiện sau khi xảy ra va chạm. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 164, 165 cùng ngày 14/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 981-46305 bị hư hỏng, thiệt hại là 31.900.000đ. Xe mô tô không gắn biển kiểm soát, bị hư hỏng thiệt hại là 3.010.000đ.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông trên là do lỗi hỗn hợp. Lê Thị P điều khiển xe ô tô chuyển hướng nhưng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ; khoản 2, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1. Triệu Văn Đ điều khiển phương tiện khi chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe theo quy định,không đội mũ bảo hiểm;khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đến đoạn đường giao nhau không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, vi phạm khoản 9, Điều 8; khoản 2 Điều 30; khoản 1 Điều 58; điểm b, khoản 1, Điều 60 Luật giao thông đường bộ;khoản 3, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Thị P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Triệu Văn Đ tổng số tiền là 100.000.000đ, đại diện gia đình anh Đ đã nhận đủ số tiền trên và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Lê Thị P.

Về vật chứng: Ngày 22/12/2023 và 22/3/2024 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu, hình thức trả lại cho Lê Thị P 01 xe ô tô biển kiểm soát 98A-46305; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Thị P; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 98A-46305 mang tên Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981, trú tại thôn M, xã P (là chồng của Lê Thị P); 01 giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm định xe ô tô biển số 98A-46305. Trả lại cho bà Vi Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu Vetstar không gắn biển kiểm soát.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp bị hại không ý kiến gì với bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát; Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đại diện bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 13/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về

tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a KHOẢN 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội của các bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ ngày 17/9/2023.Lê Thị P điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A-46305 đi trên Quốc lộ C,hướng huyện S đi thành phố B, khi P điều khiển xe ô tô đi đến ngã tư bờ hồ thuộc tổ dân phố T, trấn C, huyện L,nơi có đèn tín hiệu giao thông đang hoạt động, P bật đènxi nhan trái và điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái để đi vào xã N, do khi chuyển hướng P không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Vetstar không gắn biển kiểm soát do anh Triệu Văn Đ điều khiển, đi phía trướchướng ngược chiều đến.Hậu quả anh Đ bị thương, được đưa đi cấp cứu, đến ngày 22/10/2023 anh Đ tử vong.Hai phương tiện bị hư hỏng tổng thiệt hại là 34.910.000đ. Hành vi nêu trên của P đã vi phạmkhoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường b, khoản 2, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông

đường bộ” theo điểm a KHOẢN 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội đều đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân xẩy ra tai nạn cũng một phần do lỗi của bị hại; bị cáo hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Xét mức hình phạt đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L đã trả lại vật chứng cho bị cáo, gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Các vấn đề khác:

Đối vớichiếc xe mô tô nhãn hiệu Vetstar không gắn biển kiểm soát, có số khung VVNDCG014VN0064, số máy VVNZ150FMG006644 là của bà Trần Thị N, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Bà N đã bán chiếc xe này cho ai không nhớ. Tra cứu xe máy vật chứng ngày 25/3/2024 của Công an huyện L xác định chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Bà L không biết anh Đ mua chiếc xe này của ai, không biết mua từ bao giờ và không giao cho anh Đ điều khiển tham gia giao thông. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với bà L về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và có quyền kháng cáo theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lê Thị P 01 (một) năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện LN;
  • - UBND xã Phì Điền, Lục Ngạn;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 61/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger