Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày: 03-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Hoài Phong.
  2. Ông Huỳnh Văn Phó.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Duy Ngọc Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST - HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Nhật T, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2000 tại tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: Bóng đêm.

    Căn cước công dân số [...] cấp ngày 25/9/2023 nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

    Nơi cư trú: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp không; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ con; Tiền án 02 lần. Ngày 28/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù, về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 08/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/4/2021, chưa được xóa án tích. Ngày 19/5/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 16/2022/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/8/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự không; nhân thân: Ngày 13/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số 14/2019/QĐ-TA; Bị bắt, tạm giữ ngày 18/12/2023, tạm giam ngày 21/12/2023.

  2. Nguyễn Văn T3, sinh ngày 02 tháng 12 năm 1993 tại tỉnh Tiền Giang.

    Mã định danh cá nhân số [...]

    Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở hiện nay: ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp không; trình độ học vấn 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Bùi Thị Rô B; có vợ (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án 01 lần. Ngày 25/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 42/2023/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2023, chưa được xóa án tích; Tiền sự không; Nhân thân: Ngày 20/12/2013, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 12 tháng về hành vi đánh người gây mất trật tự công cộng theo quyết định số 3337/QĐ-UBND; Bị bắt, tạm giữ ngày 18/12/2023, tạm giam ngày 21/12/2023.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trương Thị Cẩm N, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Nhật T có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản và Nguyễn Văn T3 có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Vào khoảng 15 giờ ngày 15/12/2023, Nguyễn Nhật T cùng với Nguyễn Văn T3 đi bộ từ nhà của T3 tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang qua khu đất trống kế bên nhà của chị Trương Thị Cẩm N tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang (cách nhà T3 05m) để bẻ mía ăn. Trong lúc bẻ mía, T nhìn qua cửa sau nhà chị N thấy trên bàn tròn khu vực bếp ăn có để một chiếc điện thoại nên T rủ T3 cùng đột nhập vào nhà chị N lấy trộm điện thoại trên thì T3 đồng ý. Do cửa sau bị khóa nên T và T3 đi qua cửa hông (cửa bằng gỗ không có gắn ổ khóa, chỉ gài chốt) rồi cùng nhau dùng tay đẩy mạnh làm hai cánh cửa hở ra, T chui qua khe hở vào trong nhà rồi vòng ra mở cửa sau. T3 ra cửa sau đứng cảnh giới cho T đi vào nhà tìm và lấy trộm được 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại hiệu VIVO màu đồng (để trên bàn tròn khu vực bếp ăn) và 01 điện thoại hiệu Sony (để trên kệ tivi trong phòng khách) đưa cho T3, T3 bỏ vào túi quần đang mặc rồi cùng T về nhà. T tháo 02 thẻ sim trong 02 điện thoại trên ra đưa cho T3 ném bỏ xuống sông trước nhà rồi T3 cất giấu 02 điện thoại. Chị N trình báo sự việc mất 02 điện thoại cho Công an xã N. Đến ngày 17/12/2023, Công an xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến kiểm tra nhà của T3, thu giữ 02 điện thoại trên và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang xử lý.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐG ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu đồng, loại màn hình cảm ứng, điện thoại không gắn thẻ sim, số IMEI 1: 866580037202672, số IMEI 1: 866580037202664, màn hình cảm ứng bị bể nứt ở nhiều vị trí, mặt sau điện thoại bị trầy xước ở nhiều vị trí có giá trị là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. 01 (một) điện thoại di động hiệu SONY màu đen, loại màn hình cảm ứng, điện thoại không gắn thẻ sim, không kiểm tra được số IMEI, điện thoại bị trầy xước ở nhiều vị trí, màn hình bị bung ra một phần có giá trị là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Tổng thiệt hại tài sản là 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKSCT ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố các bị cáo Nguyễn Nhật T và Nguyễn Văn T3 về “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố hai bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật T và Nguyễn Văn T3 phạm tội trộm cắp tài sản. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 và áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 32, Điều 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 09 tháng đến 01 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo T3 khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo T và bị cáo T3 nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình đã vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐG ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Kiểm sát viên cũng không có ý kiến gì về kết luận định giá nêu trên. Việc định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự được thực hiện theo đúng quy định của tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 15 giờ ngày 15/12/2023, tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Văn T3 là người có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 thoại hiệu VIVO màu đồng và 01 điện thoại hiệu Sony của chị Trương Thị Cẩm N, có tổng giá trị là 500.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hai bị cáo phạm “Tội trộm cắp tài sản” như nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Nhật T với vai trò là người rủ rê và là người thực hiện hành vi cùng bị cáo T3 là người giúp sức thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại Trương Thị Cẩm N. Nên căn cứ vào vai trò của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt tương ứng.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương, gây tâm lý hoang mang cho nhiều người. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt ý thức chủ quan, các bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác nhằm vụ lợi cá nhân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự khoan hồng và chính sách nhân đạo của pháp luật. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trương Thị Cẩm N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, đối với 02 sim điện thoại bị mất, chị N không yêu cầu hai bị cáo T và T3 phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại Trương Thị Cẩm N 01 thoại hiệu VIVO màu đồng và 01 điện thoại hiệu Sony là đúng quy định.

[9] Xét ý kiến của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhật T và Nguyễn Văn T3 phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T 01 (Một) năm tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 18/12/2023.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 09 (Chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 18/12/2023.

  3. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Nguyễn Nhật T và bị cáo Nguyễn Văn T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhân:

  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ.CSĐT CA H. Châu Thành;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự - tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: án trộm cắp tài sản Nguyễn Nhật T và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger