|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THÀNH PHỐ C |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02/7/2024
V/v “Xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Ông Lê Văn Thành.
- 2/ Ông Phạm Văn Vĩ.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Nhu – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/4/2024 về việc “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 172/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phạm Diễm M, sinh năm 1986 (Có mặt).
- Địa chỉ: khu vực P, phường T, quận C, thành phố C.
- - Bị đơn: Ông Trần Văn Tuấn E, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: khu vực P, phường T, quận C, thành phố C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Phạm Diễm M trình bày và yêu cầu: Bà và ông Trần Văn T E tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận C vào ngày 24/12/2012. Trong thời gian chung sống giữa bà với ông Tuấn E phát sinh mâu thuẫn do không tìm ra tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng, thường xuyên cãi vả, không thể hàn gắn với nhau. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T E.
1
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 03 (ba) con chung là Trần Nguyễn Hoàng L (nam), sinh ngày 06/5/2012, Trần Nguyễn Tường V (nữ), sinh ngày 25/12/2015 và Trần Nguyễn Mỹ N (nữ), sinh ngày 24/01/2022; bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung cho đến khi trưởng thành, yêu cầu ông Tuấn E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng/con chung, cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống giữa bà với ông Tuấn E không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn ông Trần Văn Tuấn E đã được Tòa án triệu tập 02 (hai) lần đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án trên theo quy định, cụ thể vào các ngày 08/5/2024 và ngày 24/5/2024, tuy nhiên ông Tuấn E vắng mặt mà không có lý do. Cho nên, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Có mặt tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Phạm Diễm M vẫn giữ phần trình bày và yêu cầu như trên, riêng đối với yêu cầu ông Tuấn E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì bà xin rút lại.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, cũng như tại phiên tòa hôm nay: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý giải quyết đúng quy định; Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; không phát hiện vi phạm.
- - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Đối với bị đơn ông Trần Văn Tuấn E đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Phạm Diễm M được ly hôn với ông Trần Văn T E, do trong thời gian chung sống thì hôn nhân của bà M, ông Tuấn E phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nhưng hai người không tự giải quyết mâu thuẫn đã tồn tại. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao ba con chung là Trần Nguyễn Hoàng L (nam), sinh ngày 06/5/2012, Trần Nguyễn Tường V (nữ), sinh ngày 25/12/2015 và Trần Nguyễn Mỹ N (nữ), sinh ngày 24/01/2022, cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, ghi nhận ý kiến của bà M tại phiên toà không yêu cầu ông Tuấn E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối với tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn bà M khai không có, tuy nhiên bị đơn ông Tuấn
2
E vắng mặt nên chưa được làm rõ, đề nghị tách ra xét giải quyết thành vụ án khác, nếu đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Phạm Diễm M và ông Trần Văn T E tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân phường T, quận C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 12, ngày 24/02/2012, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. C sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không đạt được hạnh phúc như mong muốn nên bà M có đơn yêu cầu xin ly hôn với ông Tuấn E, quan hệ tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận C thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Trần Văn Tuấn E đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà M và ông Tuấn E là hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong thời gian chung sống thì tình cảm vợ chồng có sự rạn nứt, mâu thuẫn với nhau, giữa hai người không tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn, không hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân đã được xây dựng.
Xét thấy, để xây dựng hạnh phúc của gia đình, cũng như cuộc sống của vợ chồng phải được vun đắp từ tình cảm thật sự xuất phát từ bản thân của cả người vợ và người chồng, sự tự nguyện cả hai người đồng thời cùng duy trì, giữ gìn hạnh phúc đã xây dựng, cùng chăm lo cho nhau và nuôi dạy con chung, nhưng bà M và ông Tuấn E không làm được điều này. Bà M cho rằng không còn tình cảm, không thể hàn gắn, kiên quyết ly hôn với ông Tuấn E, nếu gán ép, duy trì sẽ không mang lại hạnh phúc. Riêng đối với bị đơn ông Tuấn E đã được Tòa án thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng ông Tuấn E vắng mặt mà không có lý do, không đưa ra ý kiến hay giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau, chứng tỏ không còn tha thiết duy trì cuộc hôn nhân với bà M. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà M và ông Tuấn E
3
không đạt được, đời sống chung thực tế không tồn tại, nghĩ nên cho bà M được ly hôn với ông Tuấn E là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
- Về con chung: Có 03 (ba) con chung là Trần Nguyễn Hoàng L (nam), sinh ngày 06/5/2012, Trần Nguyễn Tường V (nữ), sinh ngày 25/12/2015 và Trần Nguyễn Mỹ N (nữ), sinh ngày 24/01/2022, hiện đang sống với bà M. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng ba con chung cho đến khi trưởng thành, tại văn bản ý kiến ngày 24/5/2024 của Trần Nguyễn Hoàng L và Trần Nguyễn Tường V có nguyện vọng được sống với bà M; riêng đối với Trần Nguyễn Mỹ N hiện đang dưới 36 tháng tuổi, trong khi cháu Tường V và Mỹ N là nữ, cho nên để đảm bảo điều kiện chăm sóc, giáo dục, cũng như nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao ba con chung là Trần Nguyễn Hoàng L, Trần Nguyễn Tường V và Trần Nguyễn Mỹ N cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp và có căn cứ.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tại phiên toà bà M không yêu cầu ông Tuấn E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mặc dù đã được giải thích về vấn đề cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con chung chứ không phải của người nuôi con nhưng bà M vẫn không yêu cầu ông Tuấn E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; xét đây là sự tự nguyện của bà M, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Trần Văn T E theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà M khai không có, không có yêu cầu giải quyết, riêng ông Tuấn E vắng mặt nên chưa làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Phạm Diễm M nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 147, 235, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
4
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Phạm Diễm M được ly hôn với ông Trần Văn T E.
- Về con chung: Có 03 (ba) con chung là Trần Nguyễn Hoàng L (nam), sinh ngày 06/5/2012, Trần Nguyễn Tường V (nữ), sinh ngày 25/12/2015 và Trần Nguyễn Mỹ N (nữ), sinh ngày 24/01/2022; giao cháu Hoàng L, Tường V và Mỹ N cho bà Nguyễn Phạm Diễm M tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, bà M không yêu cầu ông Tuấn E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Trần Văn T E theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà M khai không có, không có yêu cầu giải quyết, riêng ông Tuấn E vắng mặt nên chưa làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Phạm Diễm M nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003341 ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận C, thành phố C; bà M đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm theo quy định./.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vũ Linh |
5
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C về xin ly hôn
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn vì mâu thuẫn gia đình
