Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN V

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HSST

Ngày: 27/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quyết T

Ông Nguyễn Quốc D

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Thảo V - Thư ký TAND huyện V, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện VKSND huyện V, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 27/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST - HS ngày 06 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 13/6/2025 đối với:

  • * Bị cáo:

    Họ và tên: Vũ Tiến Đ; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; HKTT: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Văn D, sinh năm 1958 và bà Lưu Thị N, sinh năm 1958; Vợ: Không có; Bị cáo đã ly hôn với chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

  • * Bị hại:

    1. Anh Phạm Hải N1, sinh năm 1993. (Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)

      HKTT: Thôn V, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

      Địa chỉ: H, Khu đô thị V, phường V, quận L, thành phố Hà Nội.

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ông Vũ Văn D, sinh năm 1958. (Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)

    HKTT: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

  • * Người làm chứng:

    Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1996. (Vắng mặt)

    HKTT: Thôn Q, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

    Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Tiến Đ sinh năm 1983, đăng ký hộ khẩu thường trú (HKTT): thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, làm công nhân xây dựng tại Khu đô thị V, thuộc xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Sáng ngày 24/02/2025, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 17B9 - 053.72 (mượn của bố đẻ là ông Vũ Văn D, sinh năm 1958, HKTT: thôn H, xã Q) từ nơi ở trọ tại thôn T, xã N đến công trường xây dựng trường học K, khu đô thị V để làm việc. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Đ ra bãi để xe của công trường để lấy xe đi về, thì phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng đen, biển số 17B6 - 404.53 của anh Phạm Hải N1, sinh năm 1993, HKTT: thôn V, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình, dựng bên cạnh xe mô tô của Đ vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô và tài sản của anh N1. Đ rút chìa khóa xe mô tô của anh N1 ra, rồi dùng chiếc chìa khóa này mở cốp xe của anh N1 để lấy tài sản nhưng không có. Đ để lại xe của mình ở bãi xe và dắt xe mô tô của anh N1 đi qua cổng bảo vệ của công trường. Sau đó, Đ điều khiển xe về cất giấu ở bờ ao thuộc thôn T, xã N, gần nơi ở trọ của Đ. Còn chìa khóa xe thì Đ mang về cất vào trong chiếc giày bảo hộ lao động của mình tại cửa phòng trọ.

Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, anh N1 đi ra lấy xe mô tô để về, thì phát hiện mất xe nên đã trình báo Công an xã N. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/02/2025, Đ nhờ anh Nguyễn Đình C, sinh năm1996, HKTT: Tổ dân phố Q, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (ở cùng phòng trọ với Đ) chở ra bãi để xe của công trường để Đ lấy xe mô tô của mình về, thì bị Công an xã N yêu cầu về trụ sở Công an xã để làm việc. Đ khai nhận đã thực hiện trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 17B6 - 404.53 của anh N1 và đã giao nộp chìa khóa xe, chỉ dẫn vị trí cất giấu xe để Công an xã N thu giữ chiếc xe mô tô trên. Ngoài ra, Công an xã N còn quản lý của Đ chiếc xe mô tô biển số 17B9 - 053.72.

Ngày 27/02/2025, Công an xã N đã bàn giao hồ sơ, vật chứng có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V yêu cầu định giá tài sản là xe mô tô biển số 17B6-404.53. Tại bản kết luận số 09/BKL-ĐGTS ngày 28/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, biển số 17B6-404.53 đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 8.000.000đ.

Ngày 27/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, biển số 17B6-404.53, cùng chìa khóa xe cho anh N1. Anh N1 không yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với Đ. Kết quả tra cứu xe mô tô biển số 17B9-053.72 xác định xe đăng ký mang tên chị Đặng Thị T1, sinh năm 1990, HKTT: xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Chiếc xe này chị T1 đã bán cho ông Vũ Văn D (là bố của Đ) vào năm 2020, nhưng ông D chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Ngày 13/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 17B9-053.72 cho ông D.

Vật chứng, đồ vật đã thu giữ chưa xử lý: Không có.

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSVG ngày 04/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Vũ Tiến Đạt về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ từ 07 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

- Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người tham gia tố tụng vắng mặt nhưng họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[2]. Về hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với đơn trình báo, lời khai của bị hại, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 24/02/2025, tại bãi để xe của công trường xây dựng trường học K tại khu đô thị V, thuộc xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vũ Tiến Đ đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn trắng đen, biển số 17B6-404.53 trị giá 8.000.000 đồng của anh Phạm Hải N1, sinh năm 1993, HKTT: thôn V, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình để làm phương tiện đi lại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố đẻ bị cáo ông Vũ Văn D là Bệnh binh hạng 2/3 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[4]. Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên HĐXX không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H là phù hợp, không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, nay HĐXX không đặt ra giải quyết.

[7]. Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào:

    • - Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    • - Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Khoản 1 Điều 292; Khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  2. Tuyên bố:

    Bị cáo Vũ Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  3. Mức hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Vũ Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

    Không đề cập giải quyết.

  5. Về án phí:

    Buộc bị cáo Vũ Tiến Đ phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo Vũ Tiến Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA-TAND tỉnh Hưng Yên;

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;

  • - CA tỉnh Hưng Yên;

  • - VKS huyện V;

  • - Chi cục THADS huyện V;

  • - Bị cáo; Đương sự;

  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ M

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HSST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 61/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HS số 61 ngày 27/6/2025 của Vũ Tiến Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger