Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 61/2025/HSST

Ngày 24/10/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường

+ Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn thị Thi - Giáo viên trường THCS

phường Sơn Tây, t.p Hà Nội; Bà Trần Bích Thủy - Hội phó hội phụ nữ phường

Sơn Tây, t.p Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị

Hạnh - Kiểm sát viên sơ cấp.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Khu

vực 9.

Ngày 24 tháng 10 năm 2025 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

1./ Nguyễn Hoàng P; Sinh ngày 27/12/2006 (18 tuổi 2 tháng 35 ngày); Nơi ĐKHKTTvà trú tại : Thôn T - xã Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1981, H và tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: Tại bản án số 164 ngày 11/12/2023, TAND huyện Thạch Thất, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo,về tội : “Gây rối trật tự công cộng” thời gian thử thách 30 tháng (thời điểm phạm tội bản án từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/6/2025 đến nay tại Trại Tạm giam số I – Công an t.p Hà Nội.

2./ Bùi Mạnh Q, Sinh ngày 14/02/2008 (17 tuổi 2 tháng 7 ngày); Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn X, phường T, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên cha: Bùi Văn L1, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Giang Thanh T, sinh năm 1977; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú xã T, t.p Hà Nội.

3./ Ngô Đức Thái D, Sinh ngày 23/11/2007 (17 tuổi 4 tháng 29 ngày); Nơi ĐKHKTT và trú tại: thôn V, xã S, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Ngô Đức C, sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Hàn Thị T1, sinh năm 1985; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú xã S, t.p Hà Nội.

4./ Bùi Ngọc A, sinh ngày 24/4/2008 (16 tuổi 11 tháng 28 ngày; Nơi ĐKHKTTvà trú tại: thôn X, phường T, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên cha: Bùi Văn C1, sinh năm 1981, H và tên mẹ: Phan Thị Ngọc H2, sinh năm 1982; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú xã T, t.p Hà Nội.

5./ Phan Văn C2, sinh ngày 24/01/2009 (16 tuổi 2 tháng 28 ngày); Nơi ĐKHKTT và trú tại: thôn A, xã S, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên cha: Phan Văn H3, sinh năm 1985; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú xã S, t.p Hà Nội.

6./ Lê Việt H4, sinh ngày 11/01/2009 (16 tuổi 3 tháng 10 ngày); Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn N, Phường T, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên cha: Lê Mạnh H5, sinh năm 1980, H và tên mẹ: Trương Thị Thu H6, sinh năm 1986; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú xã T, t.p Hà Nội.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo: Bùi Mạnh Q, Bùi Ngọc A, Ngô Đức Thái D, Phan Văn C2, Lê Việt H4.

Bà Đàm Thị H7, Trợ giúp viên pháp lý – Thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý số A thành phố Hà Nội. ( Có mặt tại phiên tòa)

Những người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo; Đồng thời là người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Giang Thanh T, sinh năm 1977; Thôn X, phường T, thành phố Hà Nội.( Bố đẻ bị cáo Bùi Mạnh Q).
  2. Bà Hàn Thị T1, sinh năm 1985; thôn V - xã S t.p Hà Nội. ( Mẹ đẻ bị cáo Ngô Đức Thái D).
  3. Bà Phan Thị Ngọc H2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn X, phường T, t.p Hà Nội .( Mẹ đẻ bị cáo Bùi Ngọc A);
  4. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn A, xã S, thành phố Hà Nội.( Mẹ đẻ bị cáo Phan Văn C2).
  5. Bà Trương Thị Thu H6, sinh năm 1986; thôn N - Phường T - t.p Hà Nội; ( Mẹ đẻ bị cáo Lê Việt H4).
  6. Bà Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1982; Địa chỉ : Thôn A, xã S, thành phố Hà Nội.
  7. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1992; Thôn X, phường T, thành phố Hà Nội. ( Đều có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

  1. cháu Phan Văn Khánh Q1, sinh năm 2009; Địa chỉ: Thôn A, xã S, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).
  2. cháu Vũ Bình A1, sinh năm 2010; Địa chỉ: Thôn X, phường T, thành phố Hà Nội.( Có mặt)
  3. cháu Bùi Ngọc K, sinh ngày 16/5/2011; Địa chỉ: Thôn X, phường T, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).
  4. cháu Phùng Văn T3, sinh ngày 20/9/2010; Địa chỉ: Thôn T, phường S, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).
  5. Cháu Nguyễn Thị Bảo N1, sinh ngày 05/10/2010; Địa chỉ: Thôn B, xã Y, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).
  6. Cháu Nguyễn Văn S, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn X, phường T, t.p Hà Nội . ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00', ngày 21/4/2025, Ngô Đức Thái D (SN: 23/11/2007, trú tại thôn V - xã S - Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook “Ngô Dương " của mình nhắn tin vào nhóm M mạng xã hội Facebook có tên “Đội nhà mình” gồm 11 người, cụ thể: Ngô Đức Thái D, Lê Việt H4 (SN: 11/01/2009), Bùi Mạnh Q (SN:14/2/2008), Bùi Ngọc K (SN: 16/5/2011), Bùi Ngọc A (SN: 24/4/2008), Vũ Bình A1 (SN: 06/3/2010), đều có HKTT: thôn X - P. T - Hà Nội; Phùng Văn T3 (SN: 20/9/2010, HKTT: thôn T- P.T - Hà Nội); Nguyễn Hoàng P (SN: 27/02/2006, HKTT: thôn T - xã Đ - Hà Nội); Phan Văn C2 (SN: 24/01/2009), Phan Văn Khánh Q1 (SN: 07/7/2009), đều có HKTT: thôn A - xã S - Hà Nội; Nguyễn Thị Bảo N1 (SN: 05/10/2010, HKTT: thôn B - xã Y - Hà Nội). D rủ các bạn trong nhóm tối cùng ngày đi chơi, “lượn đường” thì số người trên đồng ý. Cả nhóm hẹn gặp nhau ở nhà D rồi cùng nhau đi.

Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, H4 một mình điều khiển xe Honda Wave, màu trắng BKS: 29V7-198.81 của gia đình đi đến nhà D. Cùng lúc này, Ngọc A điều khiển xe Honda, kiểu dáng Wave, BKS: 29C1- 707.79 chở sau là K đến nhà Q để lấy 01 (một) ná súng cao su màu đen, loại 2 khúc, khi chưa mở có chiều dài 66cm, khi đã mở 2 khúc dài 106cm, làm bằng kim loại. Phần dây cao su màu ghi, có lắp 01 ống nhòm với mục đích mang theo để diễu hành và khi có nhóm thanh niên nào mâu thuẫn thì sẽ dùng súng để tấn công lại. Sau khi lấy được ná súng cao su, K điều khiển xe máy chở Ngọc A ngồi sau cầm theo đi đến đập Xuân K1 thuộc thôn X, Phường S, Hà Nội. Khi đến nơi, Ngọc A và K gặp C2 điều khiển xe máy Yamaha Sirius, màu đen, BKS: 29T4-9909, chở Q1 ngồi sau. Tiếp đó, Q một mình điều khiển xe nhãn hiệu Flyamaha, BKS: 29AA-381.99, trên người cầm theo 01 ná súng cao su có phần cán bằng kim loại, hình chữ Y, dài 10cm; Phần dây cao su (có 02 dây) màu cam vàng, mỗi dây dài 19cm; Phần để đỡ đạn bằng 2 lớp da dài 5cm đến, rồi tất cả 5 người cùng nhau đi đến nhà H4. Khi đi đến cây xăng X, Ngọc A đưa ná súng cao su cho K cầm. Lúc sau, H4 một mình điều khiển xe Honda Wave, BKS: 29V7-198.81 đi ngược chiều qua. Thấy vậy, Ngọc A gọi H4 quay lại. Khi quay lại, H4 thấy K đang cầm ná súng cao su thì H4 bảo K đưa ná súng cao su cho H4, K đồng ý. Sau đó, Ngọc A rủ cả nhóm đến nhà N1 để đón N1, tất cả đồng ý.

Khi đi, Ngọc A điều khiển xe Honda Wave, BKS: 29V7-198.81 chở H4 ngồi sau cầm theo ná súng cao su. Q một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Flyamaha, BKS: 29AA-381.99; K một mình điều khiển xe Wave, BKS: 29C1- 707.79; C2 điều khiển xe Yamaha Sirius, BKS: 29T4-9909 chở Q1. Cùng thời điểm này, T3 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 29U1- 254.44 chở theo A1 và P đi lên nhà T4 ở xã S - Hà Nội chơi. Trên đường đi T3, P và A1 gặp D đang đứng ở trước cửa nhà D. Thấy vậy, T3 điều khiển xe dừng lại đứng nói chuyện với D. Lúc này, D rủ cả ba người đi chơi, lượn đường, P, T3 và A1 đồng ý. P bảo lại D: Tý nữa đi thì nhóm P sẽ quay lại và đi cùng, rồi P, T3 và A1 tiếp tục đi đến nhà T4. Khi đến nơi P, T3 và A1 gặp N1. N1 rủ P đi cùng N1 về nhà N1 ở xã Y - B cất xe máy điện của N1, P đồng ý. T3 và A1 ở lại nhà T4, còn N1 điều khiển xe máy điện chở P đến một quán bia ở Ngã 3 T - S - B. Tại đây, N1 bảo P xuống xe đợi N1, còn N1 một mình đi về nhà N1 cất xe máy điện, P đồng ý và ở lại quán bia đợi N1. Sau đó, N1 gọi điện bảo T3 đến đón P. Khoảng 15 phút sau, T3 điều khiển xe máy Honda Wave, BKS: 29U1-254.44 đến đón P rồi T3 và P đi đến nhà D. Thời điểm này, N1 được nhóm của Ngọc A đến nhà đón. Khi đón được N1 thì Ngọc A điều khiển xe Honda Wave, BKS: 29V7-198.81 chở N1 ngồi sau; H4 đưa ná súng cao su cho Q1 cầm và điều khiển xe Honda Wave, BKS: 29C1- 707.79 chở sau là K. Tất cả cùng nhau đi đến nhà D. Khi đi từ nhà N1 được khoảng 200m, thì K có lấy súng cao su từ Q1 và cầm trên tay. Khi đến cây xăng T gần nhà D thì nhóm Ngọc A gặp D, P và T3. Tại đây, D rủ cả nhóm đi đến quán H11 ở thôn X - xã Y - Hà Nội để chơi, cả nhóm đồng ý.

Khi đi, H4 điều khiển xe Honda Wave, BKS: 29C1- 707.79 chở sau là D; T3 điều khiển xe Honda Wave BKS: 29U1-254.44 chở P và K; Q điều khiển xe Flyamaha, BKS: 29AA-381.99 đi một mình; Ngọc A điều khiển xe Honda Wave BKS: 29V7-198.81 chở sau là N1; C2 điều khiển xe Yamaha Sirius BKS: 29T4-9909 chở sau là Q1. Trên đường đi H4 có lấy lại ná súng cao su từ K cầm trên tay trái, tay phải H4 điều khiển xe máy. H4 chĩa đầu súng cao su lên trời để phô trương thanh thế khoảng 1 phút rồi lại đưa súng cao su cho K. Quá trình di chuyển trên đường T - Y thì cả nhóm điều khiển xe máy đi thành hàng hai, hàng ba nối đuôi nhau đi với vận tốc khoảng 70-80km/h, lạng lách, đánh võng dồn đuổi nhau gây náo loạn trên cung đường di chuyển. Đến quán hát, cả nhóm ở lại chơi khoảng 20 phút, rồi H4 rủ cả nhóm đi về nhà H4 để cất súng cao su và lấy kiếm, mục đích mang theo nếu có nhóm khác gây sự thì H4 sẽ dùng kiếm để tấn công lại. Sau đó, tất cả nhóm cùng nhau đi về nhà H4. Khi đến nơi, một mình H4 đi vào nhà cất ná súng cao su ở bờ tường bao bên trái nhà và đi vào phòng ngủ của H4 lấy 01 thanh kiếm dài 74cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đen, phần chuôi kiếm màu đen dài 20cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 48cm, phần đầu kiếm nhọn. Sau khi lấy được kiếm, H4 cho kiếm vào bên trong áo khoác rồi đi ra ngoài gặp nhóm bạn. Sau đó, cả nhóm đi ra khu vực Bệnh viện A2 rồi tiếp tục đi lên nhà T4 để đón A1.

Trên đường đi, H4 có cho mũi kiếm lê xuống mặt đường tạo thành tia lửa. Khi cả nhóm đến cổng làng thôn A - xã S - Hà Nội, C2 và Q1 tách khỏi nhóm đi về nhà, số người còn lại tiếp tục đi đến nhà T4. Tại nhà T4, H4 lấy thanh kiếm cất giấu trong người ra khoe với mọi người. Đến khoảng hơn 22h cùng ngày, cả nhóm cùng đi xuống xã K, S để đưa P về. Khi đi, D điều khiển xe Wave, BKS: 29C1- 707.79 chở P ngồi sau; Ngọc A điều khiển xe Wave BKS: 29V7-198.81 chở H4 ngồi sau; T3 điều khiển xe Honda Wave BKS: 29U1-254.44 chở B và N1 ngồi sau; Q điều khiển xe nhãn hiệu Flyamaha, BKS: 29AA-381.99 chở K ngồi sau đi theo đường TL414 xã T rẽ vào đường đi V để đi ra xã K, S rồi đi về S - S. Trên đường đi, cả nhóm đi với tốc độ nhanh khoảng 70-80km/h, đi thành hàng hai, hàng ba lạng lách đánh võng dồn đuổi nhau trên đường. Khi đi đến đoạn đường tỉnh lộ gần lối rẽ vào trường THPT B, H4 tiếp tục cầm kiếm cho mũi kiếm lê xuống đường tạo tia lửa ở trên đường để phô trương thanh thế. Sau khi chở P về, cả nhóm ra về. D đi xe Wave, BKS: 29C1- 707.79 của Ngọc A về nhà D trước. H4 điều khiển xe Wave BKS: 29V7-198.81 chở Ngọc A và N1; Q điều khiển xe nhãn hiệu Flyamaha, BKS: 29AA-381.99 chở K và T3. H4 và Ngọc A đưa N1 về, rồi quay lại gặp Q và T3. Lúc này, T3 lên xe của H4 và Ngọc A. H4 điều khiển xe về nhà D để Ngọc A lấy xe của Ngọc A. Sau khi D đưa xe cho Ngọc A thì gặp tổ Công tác Y40 - 141 C3 đi tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường TL414, do cầm theo kiếm nên H4 hoảng sợ và điều khiển xe máy chở T3 bỏ chạy về đập X. Ngọc A cũng điều khiển xe máy bỏ chạy. D đang đứng ở lề đường thì bị Tổ Công tác tiến hành kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan CSĐT, các bị can và các đối tượng liên quan trong vụ án đã khai nhận toàn bộ hành phạm tội của mình và cùng đồng bọn.

Cơ quan CSĐT đã tiến hành làm việc với UBND xã T và xã B - B - Hà Nội (nay là xã S - Hà Nội) để xác định mức độ ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trong vụ việc trên. UBND xã T và xã B xác định: Tuyến đường các đối tượng di chuyển là đường Tỉnh lộ nơi có nhiều phương tiện tham gia giao thông ở trên đường. Hai bên đường đều có nhà dân sinh sống, kinh doanh, người dân sinh sống rất bình yên. Việc các đối tượng điều khiển xe máy đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên đoạn đường dài trên địa bàn xã B và xã T gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình ANTT tại địa phương và gây nguy hiểm cho những người tham gia giao thông trên tuyến đường các đối tượng di chuyển. Vụ việc này khiến người dân cảm thấy rất bất an, lo sợ và cũng rất bức xúc. UBND xã B và xã T đề nghị cơ quan CSĐT - Công an T7 xử lý các đối tượng trong vụ việc trên theo đúng quy định của pháp luật để nhằm răn đe, giáo dục các đối tượng và phòng ngừa những hành vi này sẽ tiếp tục diễn ra.

Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 4937/QĐ-CSĐT, ngày 13/5/2025, để trưng cầu V - Bộ C4 giám định và xác định: 01 thanh kiếm; 01 (một) ná súng cao su màu đen, loại 2 khúc và 01 (một) ná súng cao su, phần cán cầm bằng kim loại, hình chữ Y (có đặc điểm nêu trên) là vật gì? Thuộc loại vũ khí nào? Có phải vũ khí quân dụng không? Có khả năng gây sát thương không? Tại Bản kết luận giám định số: 3888/KL-KTHS đề ngày 03/6/2025, của V - Bộ C4 kết luận:

  • 01 (một) kiếm gửi giám định thuộc Phụ lục 3 "Danh mục Vũ khí thô sơ" Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ C4 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Khi sử dụng kiếm trên tác động (đâm, chém) vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.
  • 01 (một) mẫu vật dạng ná cao su có tổng chiều dài 106cm gửi giám định là nỏ (ná), thuộc vũ khí thô sơ quy định tại Phụ lục 3 "Danh mục Vũ khí thô sơ" Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ C4 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Khi sử dụng ná (nỏ) trên bắn bi, mũi tên kim loại vào cơ thể người có thể gây chết hoặc bị thương.
  • Việc xác định các trường hợp kiếm và nỏ (ná) gửi giám định thuộc vũ khí quân dụng không thuộc thẩm quyền của Cơ quan giám định. Cơ quan trưng cầu nghiên cứu, áp dụng quy định tại điểm d, Khoản 2 - Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 để xác định mẫu vật gửi giám định nêu trên có thuộc vũ khí quân dụng không.
  • 01 (một) mẫu vật dạng ná cao su dạng hình chữ "Y" có kích thước (11x7) cm gửi giám định không thuộc danh mục vũ khí.

Việc các bị cáo và các đối tượng điều khiển xe máy đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên đoạn đường dài trên địa bàn gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình ANTT tại địa phương và gây nguy hiểm cho những người tham gia giao thông trên tuyến đường các đối tượng di chuyển. Vụ việc này khiến người dân cảm thấy rất bất an, lo sợ và cũng rất bức xúc, đã gây náo loạn, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Hành vi của các đối tượng là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử đã có đầy đủ căn cứ khẳng định hành vi của các bị cáo: Nguyễn Hoàng P, Bùi Mạnh Q, Bùi Ngọc A, Ngô Đức Thái D, Phan Văn C2, Lê Việt H4, đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn nơi công cộng, gây mất trật tự trị an, an ninh xã hội tại địa bàn phường T, xã S, thành phố Hà Nội. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.

[3]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Bùi Mạnh Q, Bùi Ngọc A, Ngô Đức Thái D, Phan Văn C2, Lê Việt H4 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P có 01 t iền án: Tại bản án số 164/2023/HSST ngày 11/12/2023, TAND huyện Thạch Thất, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo,về tội : “ Gây rối trật tự công cộng” thời gian thử thách 30 tháng (thời điểm phạm tội bản án từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi). Do vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Bị cáo P trong thời gian thử thách lại phạm tội mới, do vậy bị cáo phải chịu 15 tháng tù của bản án số 164/2023/HSST ngày 11/12/2023, TAND huyện Thạch Thất, t.p Hà Nội và bản án mới theo quy định tại Khoản 5 Điều 65 và Điều 56 – BLHS năm 2015, buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian theo Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo P được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 164/2023/HSST ngày 11/12/2023 (Từ ngày 08/7/2023 đến ngày 17/7/2023).

[4]. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hoàng P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Các bị cáo Bùi Mạnh Q, Bùi Ngọc A, Ngô Đức Thái D, Lê Việt H4 và Phan Văn C2 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, các bị cáo phạm tội lần đầu, khi thực hiện hành vi phạm tội còn ở độ tuổi chưa thành niên. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Điều 90, 91, 101, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia mang tính đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội, mang tính bột phát, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể, do vậy khi lượng hình HĐXX xem xét, đánh giá vai trò của từng bị cáo phù hợp với tinh chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình, ngoài hành vi, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp.

[5] Đánh giá vai trò, nhân thân, hình phạt đối với từng bị cáo:

Bị cáo Lê Việt H4 có hành vi ngông cuồng, chuẩn bị hung khí la hét dẫn đường, đưa thanh kiếm quẹt xuống đường tạo ra tia lửa trong đêm gây lo lắng bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Ngô Đức Thái D sử dụng tài khoản Facebook “Ngô Dương " của mình nhắn tin vào nhóm M mạng xã hội Facebook có tên “Đội nhà mình” gồm 11 người tham gia phạm tội. Do vậy bị cáo H4 và D có vai trò thứ nhất trong vụ án .

Bị cáo Nguyễn Hoàng P có 01 tiền án tại bản án số 164 ngày 11/12/2023, TAND huyện Thạch Thất, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo,về tội : “ Gây rối trật tự công cộng” thời gian thử thách 30 tháng (thời điểm phạm tội bản án từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi). Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học can ngăn ngườ khác. Các bị cáo Bùi Mạnh Q, Bùi Ngọc A, Lê Việt H4. Đều có hành gây rối trật tự công cộng là đồng phạm tích cực nên ở vai trò thứ hai của vụ án.

Đối với bị cáo Phan Văn C2 mang tính đồng phạm đi cùng tham gia các bị cáo nêu trên, do đó hành vi của bị cáo C2 có vai trò thứ ba trong vụ án.

[6] Các vấn đề liên quan khác:

Đối với các đối tượng Phan Văn Khánh Q1; Vũ Bình A1; Phùng Văn T3 và Nguyễn Thị Bảo N1: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 21/4/2025, các đối tượng đang trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự). Căn cứ khoản 2 Điều 90, Điều 97 Luật số 15 ngày 20/6/2022, về xử lý vi phạm hành chính quy định đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn V b, khoản 2, Điều 5 Nghị định 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính phủ; Khoản 3 Điều 14 Nghị định 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính phủ. Ngày 10/9/2025, Cơ quan CSĐT đã ra công văn số: 258/ĐN-CSHS đề nghị Chủ tịch UBND xã S - TP Hà Nội lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với đối tượng Phan Văn Khánh Q1; số 260/ĐN-CSHS đề nghị Chủ tịch UBND xã Y - TP Hà Nội lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với đối tượng: Nguyễn Thị Bảo N1 và số 263/ĐN-CSHS đề nghị Chủ tịch UBND Phường T - TP Hà Nội lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với đối tượng: Phùng Văn T3 và Vũ Bình A1 là có căn cứ . HĐXX không xét.

Đối với Bùi Ngọc K: Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm, K dưới 14 tuổi. Do đó, hành vi của K không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 BLHS và không bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Do đó, Cơ quan CSĐT không đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, mà chỉ nhắc nhở, giáo dục, răn đe, phòng ngừa đối với Bùi Ngọc K là có căn cứ . HĐXX không xét.

Đối với bị can Lê Việt H4, Bùi Ngọc A: Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, xác định: Ngọc A là người lấy, mang “Ná súng cao su” (S cho H4) và H4 là người lấy, mang “T5 kiếm” (S cho H4) nhằm mục đích sử dụng làm hung khí tham gia gây rối. Theo Kết luận của V - Bộ C4 : “Thanh kiếm và ná súng cao su là vũ khí thô sơ quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024”. Tuy nhiên, hành vi nêu trên của Ngọc A và H4 đã bị Cơ quan CSĐT khởi tố về tội danh “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Do đó, cơ quan CSĐT không đề nghị tiếp tục xử lý hành chính đối với bị can H4 và Ngọc A về hành vi trên là thỏa đáng, HĐXX không xét.

- Đối với bị can Bùi Mạnh Q: Ngày 21/4/2025, Q có hành vi mang theo 01 ná súng cao su hình chữ “Y” tham gia gây rối trật tự công cộng. Theo Kết luận của V - Bộ C4: “01 (một) mẫu vật dạng ná cao su dạng hình chữ "Y" có kích thước (11x7) cm gửi giám định không thuộc danh mục vũ khí”. Q còn có hành vi điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm tham gia gây rối ngày 21/4/2025. Tuy nhiên hành vi của bị can Q đã bị khởi tố để điều tra, xử lý về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự. Do đó, cơ quan CSĐT không đề nghị tiếp tục xử lý hành chính đối với bị can Q là có căn cứ . HĐXX không xét.

- Đối với Nguyễn Văn S (SN: 2006 - 19 tuổi, HKTT: thôn T - P. T - Hà Nội): Ngày 19 và 20/4/2025, S có hành vi cho Lê Việt H4 01 ná súng cao su và 01 thanh kiếm (đặc điểm như trên). Mục đích S cho Hoàng T5 kiếm và ná súng cao su chỉ để nghịch và đi săn bắn chim. Ngày 21/4/2025, S không tham gia đi Gây rối trật tự công cộng cùng H4 và nhóm bạn, S không biết việc H4 sử dụng kiếm và ná súng cao su do S cho để làm hung khí tham gia gây rối trật tự công cộng tại xã T - B. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn S không đồng phạm với Lê Việt H4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS. Hành vi của S đã phạm vào phạm vào Điểm a, Khoản 4 - Điều 11 - Nghị định 144/2021/NĐ-CPngày 31/12/2021, của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực ANTT về hành vi: "Chế tạo, trang bị, tàng trữ, vận chuyển, sửa chữa, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ; chi tiết, cụm chi tiết vũ khí, công cụ hỗ trợ hoặc phụ kiện nổ" với mức phạt từ 10.000.000 đồng - 20.000.000 đồng. Ngày 10/9/2025, Cơ quan CSĐT đã ra Công văn: 261/CV-CSHS yêu cầu công an Phường T - Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn S là có căn cứ . HĐXX không xét.

Đối với 04 bị can gồm Lê Việt H4, Bùi Ngọc A, Ngô Đức Thái D, Phan Văn C2 có hành vi điều khiển xe máy khi chưa có giấy phép lái xe hoặc chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện trên 50cc. Ngoài ra 02 bị can: Lê Việt H4, Bùi Ngọc A có hành vi giao xe cho các bị can và đối tượng nêu trên. Tuy nhiên, hành vi của các bị can đã bị khởi tố để điều tra, xử lý về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định khoản 2 - Điều 318 BLHS. Do đó, cơ quan CSĐT không đề nghị xử lý đối với các bị can về hành vi vi phạm trên là có căn cứ . HĐXX không xét.

Đối với đối tượng Vũ Bình A1 có hành vi điều khiển xe máy khi chưa có giấy phép lái xe hoặc chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện trên 50cc, điều khiển xe chở 2 chở 3 không đội mũ bảo hiểm. Ngoài ra, Vũ Bình A1 có hành vi giao xe cho người cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông vào tối ngày 21/4/2025. Cơ quan CSĐT đã đề nghị Công an phường T xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Bình A1 theo Nghị định 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021, của Chính phủ quy định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G và cơ sở G1 bắt buộc. Do đó, cơ quan CSĐT không đề nghị xử lý đối với Vũ Bình A1 về hành vi vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ là có căn cứ . HĐXX không xét.

Đối với chị Giang Thanh T (SN: 1977, HKTT: Số nhà D - thôn X - P. T - Hà Nội, mẹ đẻ của Q): Ngày 21/4/2025, chị T có giao chiếc xe Flyamaha, BKS: 29AA-381.99 cho Q. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe Flyamaha, BKS: 29AA-381.99 có dung tích xi lanh là 49,5cc. Do đó, cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với chị T là có căn cứ . HĐXX không xét.

Đối với anh Lê Văn H8 (SN: 1980, HKTT: Số nhà A - thôn N - P. T - Hà Nội, là chủ sở hữu xe Honda Wave, BKS: 29V7-198.81, do Lê Việt H4 điều khiển), chị Phan Thị Ngọc H2 (SN: 1982, HKTT: Số nhà I - thôn X - P. T - Hà Nội, là chủ sở hữu xe Honda Wave, màu đen, BKS: 29C1- 707.79, do Bùi Ngọc A điều khiển), chị Nguyễn Thị N (SN: 1992, HKTT: Số nhà 01 - Tổ dân phố X - P. T - Hà Nội, là chủ sở hữu xe Honda Wave, màu đen, BKS: 29U1-254.44, do Vũ Bình A1 điều khiển). Qúa trình điều tra xác định là chủ sở hữu của những phương tiện nêu trên mà các bị cáo, đối tượng đã sử dụng đi thực hiện hành vi vi phạm ngày 21/4/2025. Tuy nhiên, những người này không biết các đối tượng lấy xe đi khi nào và cũng không giao xe cho những đối tượng trên sử dụng. Do đó, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với những người trên mà chỉ nhắc nhở trong việc quản lý phương tiện của mình là có căn cứ . HĐXX không xét.

[7] Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra xác định Chiếc xe mô tô Honda Wave, màu trắng BKS: 29V7-198.81, là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn H8 (bố của Lê Việt H4); Chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Flyamaha, BKS: 29AA-381.99, là tài sản hợp pháp của chị Giang Thanh T (mẹ của Bùi Mạnh Q); Chiếc xe mô tô Honda, kiểu dáng Wave, màu đen, BKS: 29C1- 707.79, là tài sản hợp pháp của chị Phan Thị Thanh H9 (mẹ của Bùi Ngọc A) và chiếc xe mô tô Honda, kiểu dáng Wave, màu đen, BKS: 29U1-254.44, là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị N (mẹ của Vũ Bình Al). Các phương tiện này không thuộc vật chứng của vụ án nào. Do đó, cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 2457/QĐ- CSĐT, ngày 10/9/2025, để xử lý bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Văn H8, chị Giang Thanh T, chị Phan Thị Thanh H9 và chị Nguyễn Thị N theo quy định, là có căn cứ.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đế tài sản đã được Cơ quan Điều tra trả lại, tại phiên tòa không có yêu cầu gì. HĐXX không xét.

Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kiếm dài 74cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đen, phần chuôi kiếm màu đen dài 20cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 48cm, phần đầu kiếm nhọn (Đã qua sử dụng)

01 (một) ná súng cao su màu đen, loại 2 khúc, khi chưa mở dài 66cm, khi đã mở 2 khúc dài 106cm, làm bằng kim loại, phần dây cao su màu ghi, có lắp 01 ống nhòm (Đã qua sử dụng.

01 (một) ná súng cao su, phần cán cầm bằng kim loại, hình chữ Y, dài 10cm, phần dây cao su (có 02 dây) màu đỏ-vàng, mỗi dây dài 19cm; Phần để đỡ đạn bằng 2 lớp da dài 5cm

Theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố H, thuộc khu vực 9 lập ngày 03/10/2025.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[3] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

[ 4] Những chứng cứ tài liệu do Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp .

[ 5]. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh, cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX không thấy có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khác phục vi phạm .

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[ 1] Về tội danh : Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Bùi Mạnh Q, Bùi Ngọc A, Ngô Đức Thái D, Phan Văn C2, Lê Việt H4 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

[2] Về điều luật áp dụng:

1./ Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 318; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Khoản 5 Điều 65 và Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Hoàng P 26 ( Hai mươi sáu) tháng tù và 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” của bản án số 164/2023/HSST ngày 11/12/2023, TAND huyện Thạch Thất, t.p Hà Nội. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 41(Bốn mốt) tháng. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 23/6/2025, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ 09 (chín) ngày của bản án số 164/2023/HSST ngày 11/12/2023 (Từ ngày 08/7/2023 đến ngày 17/7/2023).

2./ Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 318; Điểm s, khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Xử phạt:

Bị cáo Bùi Mạnh Q 18 ( Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Q cho Ủy ban nhân dân phường T, t.p Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Bùi Ngọc A 18 ( Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo A cho Ủy ban nhân dân phường T, t.p Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Ngô Đức Thái D 18 ( Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã S, t.p Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Lê Việt H4 18 ( Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo H4 cho Ủy ban nhân dân phường T, t.p Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Phan Văn C2 15 ( Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo C2 cho Ủy ban nhân dân xã S, t.p Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Về tang vật, vật chứng : Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kiếm dài 74cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đen, phần chuôi kiếm màu đen dài 20cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 48cm, phần đầu kiếm nhọn (Đã qua sử dụng)

01 (một) ná súng cao su màu đen, loại 2 khúc, khi chưa mở dài 66cm, khi đã mở 2 khúc dài 106cm, làm bằng kim loại, phần dây cao su màu ghi, có lắp 01 ống nhòm (Đã qua sử dụng.

01 (một) ná súng cao su, phần cán cầm bằng kim loại, hình chữ Y, dài 10cm, phần dây cao su (có 02 dây) màu đỏ-vàng, mỗi dây dài 19cm; Phần để đỡ đạn bằng 2 lớp da dài 5cm. Theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố H, thuộc khu vực 9 lập ngày 03/10/2025.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Bùi Mạnh Q, Bùi Ngọc A, Ngô Đức Thái D, Phan Văn C2, Lê Việt H4. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của họ (có mặt) có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của họ (vắng mặt) có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Nơi nhận

  • - TAND Thành phố Hà Nội.
  • - VKSND Khu vực 9-HN
  • - Công an t.x Sơn Tây.
  • - THADSKhu vực 9- HN
  • - Những ngời tham gia tố tụng.
  • - Lu HS, V P

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Lã Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HSST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 61/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: P và đồng bọn gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger