Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày 05-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Trung
  2. Bà Phan Thị Dòn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân H- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hải Đ; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi thường trú: Ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2024 (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Võ Thị Minh T Luật sư Vũ Văn T1– là luật sư của Công ty L3(Luật sư T1có mặt và Luật sư Tcó đơn xin vắng mặt)

* Bị hại: Ông Đặng Hoàng T2 năm 1980; Nơi thường trú: ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Tây NinhNơi cư trú: A Ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Hải Y năm 1993; Nơi cư trú: A Ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 20/4/2022, Nguyễn Hải Đvà Nguyễn Ngọc T3 chức uống rượu, bia tại phòng trọ của Nguyễn Hải Đ(địa chỉ A Ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Một lúc sau, thì H2(không rõ lai lịch) điều khiển xe ba gác (không rõ biển số) đến uống rượu, bia cùng. Tại đây, Đ1 với N H2mỗi lần Nguyễn Hải Đ2 nước đá cho ông Đặng Hoàng T4(tại địa chỉ A Ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông H3 T2không cho Đ3 giao sớm và không cho Đđậu xe gần cửa hàng tạp hoá của ông H3 T2 mà đậu xe ở xa rồi vác nước đá lại giao nên đi xa, giữa Đvà ông H3 T2có cãi nhau. Lúc này, H2có hỏi Đ4 “Mày có muốn chơi ổng không?”, Đ5 lời “Muốn đánh dằn mặt ổng” rồi Đ6 dậy đi ra đến trước phòng trọ. H2đi ra lấy con dao bầu trên xe ba gác đưa cho ĐĐcầm dao bầu đi trước, H2cầm cây ba chỉa dài khoảng 40cm, Nguyễn Ngọc T5 cầm cây gậy dài 85cm đi sau. ĐH2và Nguyễn Ngọc T5 đi bộ đến nhà ông Đặng Hoàng T6 thấy ông H3 T2đang đứng phía trước nhà. Đvà ông H3 T2cãi nhau, trong lúc cãi nhau thì Đ7 dao bầu bên tay phải chém trúng một nhát vào mặt của ông T2rồi Đvà ông H3 T2vật lộn với nhau một lát thì được mọi người đến can ra. Ngay lúc này, Nguyễn Ngọc T5 dùng cây gậy lao vào đánh trúng đầu và vai trái ông H3 T2H2có dùng cây ba chĩa đâm ông H3 T2Sau đó, được mọi người can ngăn ra, nhóm của Đ8 phòng trọ. Do còn đang bực tức nên Đcầm theo con dao bầu, H2đưa cho Nguyễn Ngọc T7 con dao chặt nước đá với ý định tất cả đi qua tiếp tục chém ông H3 T2nhưng được mọi người ngăn cản nên tất cả không đi. Ông H3 T2được hàng xóm đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện A trai ông H3 T2là Đặng Hoàng T4đến Công an xã T báo vụ việc, Công an xã tiếp nhận chuyển Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B theo thẩm quyền.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 531/TgT.22 ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố H thương tích đối với Đặng Hoàng T4:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • - Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:
    • + Một sẹo vùng đầu trong cung mày trái kích thước 3,5x0,1cm, ổn định.
    • + Một sẹo vùng gò má trái kích thước 8,8x0,1cm, ổn định.
    • + Một sẹo vùng mặt phải kích thước 2,8x0,1cm, ổn định.
    • + Một sẹo mặt trước khuỷu phải kích thước 5,2x(0,1-0,3)cm, ổn định.

Bốn vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

  • + Một vết tăng sắc tố vùng 1/3 trên bờ trụ cẳng tay phải kích thước 3,5x(0,1-0,7)cm, ổn định.

Thương tích trên do vật tày nhám tác động hoặc phần cơ thể tác động vào vật trên gây ra.

  • + Một sẹo đốt giữa ngón II tay phải kích thước 2,6x(0,1-0,3)cm, ổn định.
  • + Một vết tăng sắc tố vùng khớp liên đốt gần ngón III tay trái kích thước 3,2x(0,1-0,2)cm, ổn định.
  • + Một sẹo vùng khớp liên đốt gần mặt mu ngón III tay trái kích thước 3,2x(0,1-0,2)cm, ổn định.
  • + Một sẹo mặt lòng đốt gần ngón III tay trái kích thước 3x0,1cm, ổn định.

Năm vết thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

2. Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:

  • - Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 17% (Mười bảy phần trăm).

3. Kết luận khác:

  • - Tất cả các thương tích trên không gây nguy hiểm tính mạng.
  • - Con dao bầu như Q cơ quan cung cấp có thể gây ra tất cả các thương tích trên trừ thương tích vùng cẳng tay phải.
  • - Cây gậy như quý cơ quan cung cấp không thể gây ra tất cả các thương tích trên.

Ngày 24/01/2024, N1 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), theo Bản án số 21/2024/HS-ST. Riêng Nguyễn Hải Đ9 trốn và đến ngày 02/10/2024 bị bắt theo Quyết định truy nã.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Cáo trạng số 86/CT-VKS.BC ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hải Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với N1 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), theo Bản án số 21/2024/HS-ST.

Đối với đối tượng tên H2do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Btiếp tục truy tìm xử lý sau.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T5 về tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về dân sự: Hồ sơ thể hiện ông Đặng Hoàng T8 yêu cầu những người gây thiệt hại cho ông T2bồi thường số tiền 60.000.000 đồng và tại phiên tòa ông T2xác nhận số tiền này đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh. Tuy nhiên, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa về việc tự bồi thường thêm cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải Đ – Luật sư Vũ Văn T1 trình bày: Thống nhất về nội dung vụ án và tội danh truy tố như cáo trạng của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà như sau:

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có sử dụng nhiều rượu, bia nên không làm chủ được hành vi; bị cáo không phải là người chủ mưu khởi xướng việc phạm tội mà bị cáo thực hiện hành vi theo sự kích động của H2mục đích của bị cáo là đánh dằn mặt bị hại, không chủ đích gây thương tích cho bị hại; bị cáo đã ăn năn hối cải; việc phạm tội của bị cáo là do ức chế vì trước đó giữa bị cáo và bị hại có nhiều lần mâu thuẫn cãi vã qua lại. Ngoài ra, do cơ quan điều tra chậm thực hiện các thủ tục tố tụng ban đầu như khởi tố bị can, khởi tố vụ án dẫn đến việc bị cáo thay đổi chỗ ở, nơi làm việc nên bị cáo không biết bị truy nã. Do đó, đề nghị xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo khi xem xét tình tiết trốn truy nã; Đồng thời, tại bản Cáo trạng của Viện kiểm sát không truy tố bị cáo với tình tiết là sau khi gây thương tích cho bị hại được mọi người can ngăn bị cáo đi về nhà và tiếp sau đó bị cáo có ý định mang hung khí qua nhà bị hại để tiếp tục đánh bị hại nhưng được người nhà của bị cáo can ngăn nên không đi được. Nếu xem xét tình tiết này sẽ gây bất lợi cho bị cáo vì Cáo trạng của Viện kiểm sát không truy tố bị cáo với tình tiết này;

Bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại là mẹ bị cáo đã bồi thường thay cho bị cáo số tiền 20.000.000 đồng và bị hại đã nhận tiền, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, căn cứ hướng dẫn tại công văn số 212 của Toà án nhân dân Tối Cao và Nghị quyết số 01 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối Cao đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những lý do trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điển b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự và Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị cáo Nguyễn Hải Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thống nhất nội dung bào chữa của Luật sư Vũ Văn T1không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

[2.1] Vào ngày 20/4/2022 tại địa chỉ A Ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hải Đ và đồng phạm có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích ông Đặng Hoàng T4 với tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 17% (mười bảy phần trăm).

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2.2] Bị cáo và đồng phạm đã sử dụng con dao bầu, cây ba chỉa dài khoảng 40cm và cây gậy dài 85cm là những vật bằng cây chắc, cứng, kim loại, sắc bén, có mũi nhọn để tấn công gây thương tích cho bị hại là thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” và gây ra thương tích cho bị hại với tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể là 17%; giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn với nhau nhưng vì bản chất côn đồ mà bị cáo cùng đồng phạm đã dùng hung khí gây thương tích cho bị hại, hành vi này “có tính chất côn đồ”.

Như vậy, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2.3] Xét về vai trò đồng phạm: Vụ án này có đồng phạm nhưng giản đơn, không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ giữa bị cáo và đồng phạm nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Trong đó, bị cáo là người khởi xướng việc phạm tội, nguyên nhân chính gây ra tội phạm xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa bị cáo với bị hại và tham gia thực hành tích cực, là người đầu tiên dùng dao tấn công bị hại, đồng thời cùng với đồng phạm gây ra thương tích cho bị hại nên Hội đồng xét xử có xem xét vai trò của bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Ngoài ra, tại phiên toà bà Nguyễn Thị Mỹ L1 mẹ của bị cáo Nguyễn Hải Đ10 cấp giấy giao nhận tiền ngày 05/3/2025 nội dung thể hiện bà L2 nguyện thoả thuận bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi của bị cáo Nguyễn Hải Đ11 ra cho bị hại Đặng Hoàng T2với số tiền 20.000.000 đồng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo Quyết định truy nã gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra làm cho vụ án thêm nghiêm trọng hơn; sau khi tấn công bị hại các bị cáo lại tiếp tục phân phát hung khí để tấn công bị hại lần hai, tuy nhiên được can ngăn kịp thời. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về dân sự: Tại phiên toà bị hại ông Đặng Hoàng T9 bày tại cơ quan điều tra ông Đặng Hoàng T8 yêu cầu những người gây thương tích cho ông Đặng Hoàng T10 thường thiệt hại với tổng số tiền 60.000.000 đồng nhưng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận việc N2 nguyện bồi thường số tiền 60.000.000 đồng nên ông Đặng Hoàng T11 yêu cầu bồi thường trong vụ án này. Đối với tiền 20.000.000 đồng ông Đặng Hoàng T4 nhận của bà Nguyễn Thị Mỹ L(bà L1 mẹ của bị cáo Nguyễn Hải Đ là tiền bồi thường theo Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh do bị cáo Nguyễn Ngọc T12 thi hành.

[5] Về vật chứng: đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Đối với luận cứ bào chữa và đề nghị của Luật sư T1là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải Đ12 đồng xét xử xét thấy: Việc cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận; Đối với lập luận của Luật sư Tícho rằng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo do sử dụng nhiều rượu, bia dẫn đến không kiểm soát được hành vi nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, đề nghị này không có căn cứ, trái với quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên không chấp nhận; Đối với lập luận của Luật sư Tícho rằng bị cáo không có lỗi và không biết việc bị truy nã là nhận định không có căn cứ nên không chấp nhận; Ngoài ra, Luật sư T1 đề nghị không xem xét trách nhiệm bị cáo Nguyễn Hải Đ13 tình tiết là sau khi gây thương tích cho bị hại xong bị cáo đi về nhà và tiếp sau đó bị cáo có ý định mang hung khí qua nhà bị hại để tiếp tục đánh bị hại nhưng được người nhà của bị cáo can ngăn nên không đi được vì Cáo trạng của Viện kiểm sát không truy tố tình tiết này. Xét đề nghị này của luật sư Tllà không có căn cứ. Bởi lẽ: quá trình điều tra bị cáo và đồng phạm đều thừa nhận có ý định mang hung khí tiếp tục tấn công bị hại lần hai nhưng do có người can ngăn nên không thực hiện được. Xét thấy, nội dung này là tình tiết diễn biến sự việc thể hiện ý chí phạm tội của các bị cáo và đây không phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, luật sư đề nghị áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, không xem xét tình tiết này khi xét xử vụ án là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ các Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ: 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2024.
  2. Về dân sự và vật chứng: đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hải Đ chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân Trại tạm giam khu vực Huyện Bình Chánh;
  • - Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hải Đăng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger