Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 61/2025/HS-ST

Ngày: 31 - 10 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Trường; nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.

Bà Nguyễn Thị Hồ; nghề nghiệp: Giáo viên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phượng Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 10 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Trần Minh Q (tên gọi khác: không), sinh ngày 22/06/2009 tại Lào Cai; nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã Đ, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (cha nuôi) và bà Nguyễn Thị N (mẹ nuôi); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; danh bản, chỉ bản số [...] lập ngày 15/8/2025 tại Trại tạm giam số 1 thuộc Công an thành phố H; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025; có mặt tại phiên tòa.
  2. Bùi Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 19/10/2007 tại Phú Thọ; nơi ĐKHKTT: xóm K, xã Y, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định được cha đẻ) và bà Bùi Thị K; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; danh bản, chỉ bản số [...] lập ngày 15/8/2025 tại Trại tạm giam số 1 thuộc Công an thành phố H; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025; có mặt tại phiên tòa.
  3. Bùi Huy L (tên gọi khác: không), sinh ngày 20/8/2008 tại Phú Thọ; nơi ĐKHKTT: xóm D, xã D, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C1 (đã chết) và bà Bùi Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; danh bản, chỉ bản số [...] lập ngày 18/8/2025 tại Trại tạm giam số 1 thuộc Công an thành phố H; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/8/2025 đến ngày 15/8/2025; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của Trần Minh Q: Ông Trần Văn C, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, tỉnh Lào Cai; có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của Bùi Văn M: Bà Bùi Thị K, sinh năm 1988; Địa chỉ: Xóm K, xã Y, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của Bùi Huy L: Ông Bùi Văn L1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Xóm D, xã D, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

Người bào chữa cho Trần Minh Q, Bùi Văn M và Bùi Huy L: Bà Bùi Thị Bích P- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Quang T1, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã P, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

Chị Trần Thị Hồng T2, sinh năm 2003; nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bùi Thế A, sinh ngày 30/8/2010;

Người đại diện hợp pháp của Bùi Thế A: Ông Bùi Văn C2, sinh năm 1986 và bà Quách Thị Q1, sinh năm 1989 (là bố, mẹ đẻ); Cùng địa chỉ: Xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Minh Q là nhân viên làm việc, ở tại quán M2 tại số nhà G đường V, thôn L, xã H, thành phố Hà Nội (gọi tắt là quán G) do anh Trần Quang T1 là chủ quán. Do thiếu tiền tiêu xài nên Q nảy sinh ý định lấy xe máy của chủ quán để bán lấy tiền chi tiêu. Q rủ Nguyễn Thế A1 là nhân viên làm cùng và sử dụng điện thoại Iphone X của mình vào ứng dụng Messenger gọi điện thoại rủ thêm Bùi Văn M, Bùi Huy L, là nhân viên làm việc tại quán M2 tại số C phố N, phường X, thành phố Hà Nội (gọi tắt là quán 37 phố N), lấy trộm hai chiếc xe máy của chủ quán mang về quê của Bùi Huy L để bán lấy tiền chia nhau. Thế A1, M và L đều đồng ý. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/8/2025, Q và Thế A1 đi từ tầng 03 xuống tầng 01 của quán G. Q vào quầy bán hàng tìm và lấy được chìa khóa chiếc xe máy Honda Vision biển số 29AG-053.79, Thế A1 bấm chìa khóa mở cửa quán, Q dắt chiếc xe máy trên ra ngoài rồi Thế A1 bấm khóa đóng cửa quán. Do Thế A1 không biết đi xe máy nên Q điều khiển xe chở Thế A1 đi đến quán C phố N đón M và L để quay lại quán 79 V lấy nốt chiếc xe thứ hai. Do không có tiền đổ xăng nên Q vào quầy bán hàng của cửa hàng 37 phố Nhổn tìm và lấy được số tiền 360.000 đồng. Sau đó, cả 04 người điều khiển xe máy biển số 29AG-053.79 quay lại quán G, đến nơi M và L đứng bên ngoài cửa quán trông xe còn Q và Thế A1 mở cửa quán, đi vào tầng 01. Tại tầng 01, Q vào quầy bán hàng, mở ngăn kéo tìm, lấy được chìa khóa xe máy Honda Vision số 29AM -095.52 và lấy tiếp 400.000 đồng trong quầy. Sau khi lấy được cả 02 chiếc xe máy và tiền, Q điều khiển xe máy Honda Vision biển số 29AM -095.52 chở Thế A1 ngồi sau, M điều khiển xe máy Honda Vision biển số 29AG-053.79 chở L ngồi sau đi về nhà L ở xã D, tỉnh Phú Thọ. Khi đi đến địa phận tỉnh Phú Thọ thì cả 04 dừng lại ven đường, Q và M tháo biển số của 02 chiếc xe máy trên cho vào trong cốp xe máy rồi đi tiếp về nhà L để tìm nơi tiêu thụ tài sản. Tuy nhiên, chưa bán được thì Cơ quan công an đến mời cả 04 đối tượng về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, BKS: 29AG-053.79, số khung: RLHJK0385SY033256, số máy: JK03E1485870 đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng, số IMEI: 356739088461556 đã qua sử dụng; Số tiền: 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) do Trần Minh Q giao nộp.
  • 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, BKS: 29AG-053.79, số khung: RLHJK0359RY312323, số máy: JK03E3359791 đã qua sử dụng do Bùi Văn M giao nộp.
  • 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, 64GB, số IMEI: 356116099096129 đã qua sử dụng do Bùi Huy L giao nộp.
  • 01 (một) UBS màu trắng; 01 (một) photo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 29AG-05379; 01 (một) photo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 29AM-09552 do anh Trần Quang T1 giao nộp.

Tại cơ quan điều tra Trần Minh Q khai báo, sau khi Q lấy được số tiền 760.000 đồng, Q đều mang ra ngoài đếm và đều nói cho M, L và Thế A1 biết. Số tiền trên cả 04 người đã mua xăng, mua đồ ăn và nước uống trên đường đi hết 510.000 đồng, còn lại 250.000 đồng Q giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Ngày 07/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T đã yêu cầu định giá đối với 02 chiếc xe. Tại Bản kết luận định giá số 696/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS Thành phố H kết luận:

  • 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám đen, BKS: 29AM-095.52, số khung: RLHJK0385SY033256, số máy: JK03E1485870 đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 06/8/2025 có giá là 34.500.000 đồng.
  • 01 chiếc mô tô chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, BKS: 29AG-053.79, số khung: RLHJK0359R Y312323, số máy: JK03E3359791 đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 06/8/2025 có giá là 32.333.333 đồng.

Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy Honda Vision màu xanh đen, BKS: 29AG-053.79 cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Hồng T2 và trao trả chiếc xe máy Honda Vision màu xanh đen, BKS: 29AG-053.79 cho chủ sở hữu là anh Trần Quang T1. Anh Trần Quang T1 và chị Trần Thị Hồng T2 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về dân sự.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKSKV8 ngày 10/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội truy tố Trần Minh Q, Bùi Văn M và Bùi Huy L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Người bào chữa cho các bị cáo trình bày quan điểm đồng ý với tội danh VKS đã truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến độ tuổi và hoàn cảnh xuất thân của các bị cáo để cho các bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội thực hành quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt Trần Minh Q từ 21 đến 25 tháng tù; xử phạt Bùi Văn M từ 18 đến 21 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt Bùi Huy L từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động của Trần Minh Q và Bùi Huy L; lưu hồ sơ vụ án 01 chiếc USB do anh T1 giao nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trên địa bàn xã H, thành phố Hà Nội. Căn cứ Điều 268, 269 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b, khoản 3 Điều 9 của Thông tư số 11/2025/TT-BCA ngày 27/02/2025; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát nhân dân và thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội.

[2] Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp.

[3] Về hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra tiến hành thu thập, có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút sáng ngày 06/8/2025, tại quán M2 số G đường V, thôn L, xã H, thành phố Hà Nội, Trần Minh Q, Bùi Văn M, Bùi Huy L và Bùi Thế A đã trộm cắp 01 xe mô tô biển số 29AG-05379 trị giá là 32.333.333 đồng của chị Trần Thị Hồng T2, 01 xe mô tô biển số 29AM- 09552 trị giá là 34.500.000 đồng và 760.000 đồng tiền mặt của anh Trần Quang T1. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 67.593.333 đồng (Sáu mươi bảy triệu năm trăm chín mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Sau khi lấy được tài sản, cả bốn người đi về quê của Bùi Huy L ở xã D, tỉnh Phú Thọ để bán lấy tiền chia nhau nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an mời về trụ sở làm việc.

[4] Hành vi của các bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 50 triệu đồng của anh Trần Quang T1 và chị Trần Thị Hồng T2 như nêu trên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[5] Khi thực hiện hành vi phạm tội, Trần Minh Q, Bùi Văn M và Bùi Huy L đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát khu vực 8 - Hà Nội truy tố các bị cáo theo tội danh điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Tại thời điểm phạm tội, Bùi Thế A mới 14 tuổi 11 tháng 27 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự. Công an xã H quyết định xử phạt hành chính đối với Bùi Thế A bằng hình thức “Cảnh cáo” theo quy định tại Điều 22 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực ANTT, là đúng.

[7] Hành vi của Trần Minh Q, Bùi Văn M và Bùi Huy L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với mức độ hành vi của từng bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo thấy, đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn.

[8.1] Trần Minh Q là người khởi xướng việc trộm cắp và rủ rê Thế A cùng M và L phạm tội. Q cũng là người trực tiếp thực hiện việc lấy tài sản. Vì vậy, Q đóng vai trò chính nên sẽ phải chịu mức hình phạt cao nhất và phải bị cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để học tập, tu dưỡng thành công dân tốt.

[8.2] Bùi Văn M có vai trò là đồng phạm giúp sức cho hành vi của Q. M là người trực tiếp điều khiển chiếc xe lấy được chở theo Bùi Văn L2 cùng với Q và Thế A đi về xã D (huyện K, tỉnh Hòa Bình cũ) để tìm cách tiêu thụ. Trên đường đi tẩu tán tài sản, để che dấu hành vi của mình, M cùng với Q tháo biển số xe cất đi. Hành vi của M là đồng phạm tích cực với Q. Vì vậy, cũng cần xử phạt nghiêm đối với M, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo.

[8.3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét, khi thực hiện hành vi phạm tội Q mới 16 tuổi 01 tháng 15 ngày, M cũng chỉ 17 tuổi 09 tháng 18 ngày; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị trộm cắp cũng đã được thu hồi ngay để trả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; về nhân thân các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số và có hoàn cảnh xuất thân éo le. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[8.4] Bùi Huy L có vai trò không đáng kể, thứ yếu trong vụ án. Tuy đồng ý tham gia cùng với Q nhưng không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp mà chỉ mang tính chất a dua, ủng hộ Q và các đồng phạm khác về mặt tinh thần. Xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội cũng chưa thành niên; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bố bị cáo đã chết từ khi bị cáo còn nhỏ và mẹ bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo đời sống xã hội mà có thể áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tự tu dưỡng bản thân và có điều kiện chăm sóc mẹ bị bệnh nặng.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều không có thu nhập ổn định, không có tài sản, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện để đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quang T1 và chị Trần Thị Hồng T2 đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động của Trần Minh Q và 01 chiếc điện thoại di động của Bùi Huy L được sử dụng để liên lạc với nhau rủ rê phạm tội sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Một chiếc USB do anh Trần Quang T1 giao nộp chứa đoạn clip cắt từ camera ghi lại quá trình các bị cáo trộm cắp tài sản là chứng cứ chứng minh tội phạm sẽ lưu hồ sơ vụ án.

[12] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Xử phạt: Trần Minh Q 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2025.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Xử phạt: Bùi Văn M 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2025.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Xử phạt: Bùi Huy L 15( Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản".

Giao Bùi Huy L cho UBND xã D, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen bên trong không lắp sim và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng đã qua sử dụng không lắp sim. (Cả hai chiếc điện thoại đều không kiểm tra chất lượng bên trong máy khi bàn giao).

Chuyển lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu trắng được niêm phong trong một phong bì thư, tại các mép bì thư được dán kín và có chữ ký của người cung cấp Trần Quang T1, cán bộ ghi biên bản Hoàng Duy M1 và hình dấu của Công an xã H. (Vật chứng hiện lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8- Hà Nội, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2025).

- Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 8- Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo, bị hại, NLQ, người đại diện, người bào chữa...;
  • - CQTHAHS Công an TPHN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 31/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger