|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày 30-10-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thao
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nhàn
Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Quách Cao P, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1993, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn S và bà Phạm Thị C; có vợ là Đồng Thị H và có 02 con; tiền án: tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 51 ngày 30/7/2025 của Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Quách Cao P 15.000.000 đồng về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 04/8/2025 chuyển tạm giam; có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH Đ, địa chỉ khu công nghiệp N, xã T, huyện A (nay là phường H), thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Yamada S1 - Tổng giám đốc; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1976 – Trưởng phòng xuất nhập khẩu - Công ty TNHH Đ, là người đại diện theo uỷ quyền (theo văn bản số 1810-2025 ngày 18/10/2025); có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người phiên dịch: Bà Lê Thị Huyền T – Trưởng phòng Hành chính nhân sự kiêm phiên dịch cho Tổng giám đốc - Công ty TNHH Đ; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/6/2023, Công ty TNHH Đ (sau đay gọi tắt là Công ty Đ), địa chỉ khu công nghiệp N, xã T, huyện A (nay là phường H), thành phố Hải Phòng trong quá trình bán thanh lý phế liệu phát hiện mất 740,15 kg phế liệu thiếc tại kho tầng 3, Công ty đã trình báo Công an huyện An Dương và giao nộp các tài liệu có liên quan gồm 02 chiếc USB chứa dữ liệu camera an ninh và các phiếu cân số lượng từng thùng thiếc phế liệu. Kết quả xác minh liên quan đến Quách Cao P và Vũ Trà K, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố C, phường A, thành phố Hải Phòng đều là công nhân làm việc tại kho thành phẩm của Công ty Đ.
Quá trình điều tra xác định, thứ 6 hàng tuần, P và K được giao nhiệm vụ cùng chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố V, phường H, thành phố Hải Phòng (nhân viên bộ phận xuất nhập khẩu) cân, nhận bàn giao phế liệu gồm: hoop, đồng và thiếc tại cửa kho tầng 2 để nhập kho tầng 3. P và K bê các thùng phế liệu lên cân, chị D ghi số cân vào sổ, tem rồi dán lên thùng phế liệu. Sau khi cân xong, chị D đi cầu thang bộ lên tầng 3 để mở cửa kho còn P và K bê các thùng phế liệu này lên pallet, kéo vào thang máy đi lên tầng 3 để nhập kho. Trong những lần vận chuyển phế liệu cùng nhau, P nảy sinh ý định trộm thiếc phế liệu mang đi bán và chỉ dẫn cho K cùng thực hiện. Từ ngày 19/8/2022 đến ngày 23/6/2023, P và K đã 07 lần trộm thiếc phế liệu của Công ty Đ. Trong đó, có 02 lần P rút phế liệu chứa trong các thùng carton đã cân ra một thùng mới và giấu sau pallet gần cửa thang máy sau đó vẫn dán kín thùng bị rút ruột để nhập kho. Còn 05 lần khi chuyển phế liệu ra cửa thang máy tầng 2, cả hai đẩy xe lên tầng 3, ra khỏi cửa thang máy, Phú bê luôn 01 hoặc 02 thùng giấu ở gần cửa thang máy, số còn lại cho nhập kho. Sau đó, cả hai quay lại dùng xe đẩy chuyển số phế liệu lấy được xuống tầng 1, có 01 lần (ngày 13/01/2023) Khúc bê cùng P ra gần nhà để xe, 01 lần (ngày 16/6/2023) Khúc bê cùng P ra để cạnh chỗ bảo vệ, 05 lần còn lại P tự chuyển hàng xuống. Số thiếc phế liệu lấy được, P mang đi bán lại cho một số người kinh doanh phế liệu (không rõ nhân thân, lai lịch) ở gần khu vực cầu K thuộc xã A, huyện A (nay là phường H) với giá từ 70.000 đồng đến 120.000 đồng/kg tùy từng thời điểm. Số tiền bán được thiếc phế liệu, P đã sử dụng cá nhân, thỉnh thoảng P mời Khúc đi ăn hoặc cho Khúc 1.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 70/KL-HĐĐG ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: giá trị 740,15kg thiếc phế liệu là 241.288.900 đồng (740,15kg x 326.000 đồng).
Kết luận giám định số 1742/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: 06 tập tin có phần mở rộng “MP4” và 38 tập tin có phần mở rộng “PNG”, tổng dung lượng 999 MB được lưu trữ trong USB nhãn hiệu KINGSTON 32 GB đã qua sử dụng không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa. 14 tập tin có phần mở rộng “MP4” và 01 tập tin có phần mở rộng “JPG”, tổng dung lượng 1,18GB được lưu trữ trong USB nhãn hiệu KINGSTON 32 GB đã qua sử dụng không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa. Kiểm tra các tập tin, xác định P cùng Khúc 07 lần trộm cắp thiếc phế liệu của Công ty Đ.
Căn cứ vào các phiếu cân trọng lượng từng thùng thiếc phế liệu của các ngày do Công ty Đ giao nộp, xác định trọng lượng thấp nhất của các thùng thiếc phế liệu mà Quách Cao P và Vũ Trà K đã chiếm đoạt, như sau:
Ngày 19/8/2022, vận chuyển 03 thùng thiếc phế liệu để nhập kho, trọng lượng các thùng là: 13,8kg, 13,9kg, 14kg/01 thùng. P và K đã chiếm đoạt 02 thùng, tổng trọng lượng là 27,7kg, trị giá 9.030.200 đồng;
Ngày 04/11/2022, vận chuyển 03 thùng thiếc phế liệu để nhập kho, trọng lượng các thùng là 11,8kg, 12kg, 12,9kg/01 thùng. P và K đã chiếm đoạt 01 thùng, trọng lượng là 11,8kg, trị giá 3.846.800 đồng;
Ngày 13/01/2023, vận chuyển 03 thùng thiếc phế liệu để nhập kho, trọng lượng các thùng là: 10kg, 10,2kg, 12,8kg/01 thùng. P và K đã chiếm đoạt 01 thùng trọng lượng là 10kg, trị giá 3.260.000 đồng;
Ngày 05/5/2023, vận chuyển 05 thùng thiếc phế liệu để nhập kho, trọng lượng các thùng là: 9,5kg, 9,6kg, 9,8kg, 11,8kg, 15,8kg/01 thùng. P và K đã chiếm đoạt 02 thùng, tổng trọng lượng là 19,1kg, trị giá 6.226.600 đồng;
Ngày 12/5/2023, vận chuyển 01 thùng thiếc phế liệu để nhập kho, trọng lượng 20,7kg. P và K đã chiếm đoạt 01 thùng, trọng lượng là 20,7kg, trị giá 6.748.200 đồng;
Ngày 16/6/2023, vận chuyển 02 thùng thiếc phế liệu để kho, trọng lượng các thùng là: 10,6kg, 17kg/01 thùng. P và K đã chiếm đoạt 02 thùng, tổng trọng lượng là 27,6kg, trị giá 8.997.600 đồng;
Ngày 23/6/2023, vận chuyển 03 thùng thiếc phế liệu để nhập kho, trọng lượng các thùng là: 8,7kg, 9,8kg, 10,4kg/01 thùng. P và K đã chiếm đoạt 01 thùng, trọng lượng là 8,7kg, trị giá 2.836.200 đồng.
Như vậy, tổng trọng lượng thiếc phế liệu P và K chiếm đoạt của Công ty Đ là 125,6kg, trị giá tài sản là 40.945.600 đồng.
Tại Bản án hình sự số 02/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương đã xử phạt Vũ Trà K 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Đối với bị cáo Quách Cao P sau khi phạm tội đã bỏ trốn Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã đối với Quách Cao P, ngày 01/8/2025 bị cáo P bị bắt theo quyết định truy nã tại xã A, tỉnh Đồng Tháp.
Vật chứng: 02 chiếc USB nhãn hiệu KINGSTON 32GB bên trong chứa các tập tin liên quan đến hành vi phạm tội của Quách Cao P và Vũ Trà K được đựng trong bì thư, đánh số bút lục chuyển cùng hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 02/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương, buộc bị cáo Vũ Trà K phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty Đ số tiền là 40.945.600 đồng.
Tại Cáo trạng số 48/VKSKV2 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng truy tố bị cáo Quách Cao P về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt với mức hình phạt nhẹ nhất.
Tại phiên toà, đại diện bị hại đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng hình phạt đối với Quách Cao P theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự, tuy tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương đã giải quyết, tuyên buộc bị cáo Vũ Trà K phải bồi thường cho Công ty Đ toàn bộ giá trị thiệt hại của tài sản chiếm đoạt là 40.945.600đồng, nhưng bị cáo K mới bồi thường cho Công ty số tiền 20.472.800đồng, nên Công ty đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị cáo P phải bồi thường số tiền còn lại là 20.472.800 đồng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quách Cao P như nội dung cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quách Cao P mức án từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 02/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương nên không đề nghị giải quyết; về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 8/2022 đến tháng 6/2023, bị cáo Quách Cao P đã cùng Vũ Trà K 07 lần lén lút chiếm đoạt thiếc phế liệu của Công ty Đ, với tổng khối lượng thiếc phế liệu đã chiếm đoạt là 125,6kg trị giá 40.945.600 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Quách Cao P có đủ năng lực phải chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng truy tố bị cáo Quách Cao P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[3.1] Tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3.2] Vai trò đồng phạm trong vụ án: Bị cáo Quách Cao P là người đề xuất khởi xướng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đồng thời còn chỉ dẫn cho Vũ Trà K cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo P có vai trò cao nhất.
[3.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quách Cao P cùng Vũ Trà K đã 07 lần thực hiện hành vi phạm tội, giá trị tài sản chiếm đoạt của các lần đều trên 2.000.000 đồng, do vậy bị cáo Quách Cao P phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo P thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.4] Về hình phạt chính: Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Quách Cao P là người có vai trò chính trong vụ án, thực hiện hành vi vi phạm nhiều lần, tài sản chiếm đoạt được bị cáo bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Mặt khác, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra. Trong thời gian bỏ trốn và bị truy nã, bị cáo còn có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, bị Công an phường Phước Thắng, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15.000.000đồng (theo Quyết định số 51 ngày 30/7/2025 của Công an phường Phước Thắng, thành phố Hồ Chí Minh). Điều này, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[3.5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, gia đình bị cáo P có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 02/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương buộc bị cáo Vũ Trà K phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty Đ số tiền là 40.945.600 đồng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[7] Các vấn đề khác: Đối với việc Công ty Đ trình báo bị mất 740,15kg thiếc phế liệu, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ không đủ căn cứ xác định Vũ Trà K và Quách Cao P chiếm đoạt toàn bộ trọng lượng thiếc phế liệu này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quách Cao P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Quách Cao P 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2025.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Quách Cao P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp bị cáo Vũ Trà K có yêu cầu bị cáo Quách Cao P cùng phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt cho Công ty Đ thì bị cáo Quách Cao P phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị cáo Vũ Trà K số tiền 20.472.800 đồng đã bồi thường Công ty Đ (Số tiền 20.472.800 đồng là kỷ phần mà bị cáo Quách Cao P phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty Đ).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thao |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Văn Dung – Bùi Thị Nhàn |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thao |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự
