trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày: 30-9-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Hồ Quỳnh Uyên

Ông Nguyễn Văn Trình

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Thục Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 30/01/2007 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú và nơi cư trú: Tổ A phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay là phường C, thành phố Đà Nẵng). Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hồng S và bà Phạm Thị T; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Trần Thanh Q1 - Sinh năm: 1998. Nơi cư trú: K đường T, phường H, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phan Văn T1 - Sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Số A đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).

- Ông Nguyễn Hữu H - Sinh năm: 1981. Nơi cư trú: K đường L, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 03/4/2025, khi đi bộ trong khuôn viên khu vực chung cư C, thuộc tổ A phường C, thành phố Đà Nẵng, Q nhặt được chùm chìa khóa có 04 chìa (là của ông Trần Thanh Q1 bị đánh rơi trước đó 04 ngày), trong đó có 01 chìa khoá loại xe Honda. Lúc này, Q nảy sinh ý định sử dụng chìa khoá này tra thử vào ổ khoá của các xe mô tô nhãn hiệu Honda đang dựng trong khu vực trước sân chung cư C1, để lấy làm phương tiện đi lại. Khi đi đến xe mô tô hiệu Honda Air Blade BKS: 43C1 - 485.07 của ông Trần Thanh Q1, Q sử dụng chìa khóa và mở khóa khởi động được chiếc xe mô tô này. Tuy nhiên do thời điểm đêm khuya không có chỗ cất giấu, nên Q tắt máy, khoá cổ xe lại, rồi đem chìa khoá về nhà ngủ. Đến 6 giờ ngày 04/4/2025, Q quay lại vị trí xe mô tô hiệu Honda Air Blale BKS: 43C1-485.07, dùng chìa khoá khởi động xe rồi điều khiển xe đi phỏng vấn xin việc làm tại đường Đ, thành phố Đà Nẵng. Quá trình Q sử dụng xe mô tô, Q có nhắn tin với bạn tên Trần Nguyễn Nhã Đ (sinh ngày 03/03/2011) với nội dung "Q mới mua lại 01 chiếc xe máy cũ không có giấy tờ". Nghe vậy Nhã Đ đề nghị Q cho mượn xe để đi học thì Q đồng ý. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, Q gặp Nhã Đ tại địa chỉ: Số B đường T, phường C, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, Q giao chiếc xe mô tô nêu trên cho N Đan sử dụng, còn Q sử dụng xe đạp điện của Nhã Đ. Sau đó, Nhã Đ điều khiển xe mô tô đi đến nhà của bạn là Nguyễn Linh T2 (sinh ngày: 23/07/2011) để chở T2 đi học. Khi Nhã Đ và Linh T2 đi mua trà sữa trước cổng trường THPT C, thành phố Đà Nẵng thì gặp ông Trần Thanh Q1 đang đi tìm xe bị mất phát hiện và báo Công an phường đến mời về làm việc.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu xám trắng, BKS: 43C1-485.07; 01 chùm chìa khoá, trong đó có 01 chìa khoá xe mô tô hiệu Honda.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận C, thành phố Đà Nẵng (cũ) xác định: Xe mô tô hiệu Honda Air Blade, BKS: 43C1- 485.07, số máy JF46E6064372, số khung 4613EZ13935, có trị giá là: 16.170.000 đồng.

Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật số 86/2025/QH15, xử phạt bị cáo Q mức hình phạt từ 09 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Thanh Q1 đã nhận lại xe và bị cáo Nguyễn Hồng Q đã bồi thường tiền sửa xe nên ông Q1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Q đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng là: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và tiếp tục học hành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hồng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 6 giờ ngày 04/4/2025, sau khi nhặt được chìa khoá xe mô tô mà ông Trần Thanh Q1 đánh rơi, tại khuôn viên khu chung cư C, thuộc tổ A, phường C, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Hồng Q đã lén lút sử dụng chìa khoá xe này để chiếm đoạt của ông Trần Thanh Q1 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, BKS: 43C1- 485.07, có giá trị là 16.170.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận C, thành phố Đà Nẵng (cũ)).

Do đó, hành vi này của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật số 86/2025/QH15. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Q về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định, nhưng bị cáo lại bất chấp hậu quả, coi thường kỷ cương pháp luật để trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hồng Q không có tình tiết tăng nặng.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Q1. Lần phạm tội này của bị cáo là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại b, i, s khoản 1 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật số 86/2025/QH15. Ngoài ra, bị hại ông Trần Thanh Q1 có đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật số 86/2025/QH15. Do đó, HĐXX cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo Q.

[3.4] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy bị cáo Nguyễn Hồng Q có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật số 86/2025/QH15 cho bị cáo Nguyễn Hồng Q được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người tốt và cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung, cũng như thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của chính sách xử lý hình sự của Nhà nước, của pháp luật Việt Nam.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Thanh Q1 đã nhận lại xe mô tô, bị cáo đã bồi thường tiền sửa xe cho ông Trần Thanh Q1, ông Q1 không yêu cầu gì thêm. Do đó, HĐXX không xem xét.

[5] Đối với Phan Nguyễn Nhã Đ1 và Nguyễn Linh T2, trong quá trình sử dụng xe mô tô hiệu Honda Air Blade, BKS: 43C1- 485.07, cả hai không biết đây là tài sản do Nguyễn Hồng Q2 phạm tội mà có, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hình sự là có cơ sở, nên HĐXX không xem xét.

[6] Tại phiên tòa, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận khu vực 3 - Đà Nẵng đề nghị áp dụng cho bị cáo Nguyễn Hồng Q là có căn cứ, phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật số 86/2025/QH15.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng Q 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Hồng Q cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hồng Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND khu vực 3 - Đà Nẵng;
  • - VKSND tp. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT thành phố Đà Nẵng;
  • - Cơ quan THAHS CA thành phố Đà Nẵng;
  • - THADS khu vực 3 - Đà Nẵng;
  • - Sở tư pháp tp. Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Q phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger