1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án: 61/2025/HS-ST Ngày: 26/5/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập –Tự do –Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH-TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bền
Ông Phùng Văn Long
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thuý Quỳnh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1995, tại Tiền Giang.
Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị P; Bị cáo chưa vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2025 đến nay, hiện tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực M Công an tỉnh T
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Lưu L - Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt)
*Người bị hại:
- Lê Thị L1 sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Trần Khả T1, sinh năm 1996(vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã B, C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp V, xã V, C, tỉnh Tiền Giang.
*Người làm chứng:
- Nguyễn Thị P, sinh năm 1959 (vắng mặt)
- Trần Thị Thiên P1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
- Nguyễn Thị C sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Hồ Tấn Phát sinh năm 2003 (vắng mặt)
- Lê Thanh H sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Nguyễn Văn Đ1 sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, C, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, C, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: ấp V, xã V, C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp V, xã V, C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, C, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 ngày 10/11/2024 tại ấp B, xã B và ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang bị cáo Trần Văn T có hành vi lén lút trộm 01 xe đạp martin màu bạc của chị Lê Thị L1 có giá trị là 300.000 đồng và 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda loại Future màu xanh của anh Trần Khả T1 có giá trị 15.000.000 đồng, tổng giá trị chiếm đoạt là 15.300.000 đồng.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 122/KL-HĐĐG ngày 17/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận:
- - 01 xe mô tô hai bánh số loại Future hiệu Honda màu xanh biển số 63F6-4734 số máy JA02E0047749 số khung RLHJA0207YY047733 (tài sản thu hồi được) có trị giá vào ngày 10/11/2024 là 15.000.000 đồng
- - 01 xe đạp hiệu Martin màu bạc đã qua sử dụng ((tài sản thu hồi được) có giá trị vào ngày 10/11/2024 là 300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 15.300.000 đồng
* Về trách nhiệm dân sự: các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường về dân sự.
* Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- - 01 đĩa DVD có chứa 04 đoạn Camera lưu kèm hồ sơ vụ án
- - 01 xe đạp hiệu Martin màu bạc đã qua sử dụng và 01 xe mô tô hai bánh số loại Future hiệu Honda màu xanh biển số 63F6-4734 số máy JA02E0047749 số khung RLHJA0207YY047733 đã trả cho bị hại Lê Thị L1 và Trần Khả T1.
- - 01 cái áo thun ngắn tay, không cổ áo màu xanh lá
- - 01 cái quần sọt màu xanh rêu, có 02 túi hai bên và 02 túi ở phía dưới của quần
* Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 70/2025/KLGĐ ngày 19/3/2025 của Trung tâm P2 kết luận: trước, trong, sau thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (ngày 10/11/2024) và hiện tại: đương sự có bệnh lý tâm thần: tâm thần phân liệt thể không biệt định. Nguyên nhân bệnh: tâm thần phân liệt là bệnh lý tâm thần được xếp vào nhóm các bệnh nội sinh. Nguyên nhân của bệnh tâm thần
3
phân liệt vẫn chưa được xác định rõ ràng trong đó vai trò của rất nhiều yếu tố: di truyền, miễn dịch, nhiễm độc...
Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (ngày 10/11/2024) và hiện tại: đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi do giai đoạn bệnh thuyên giảm.
Hiện tại: đương sự có khả năng làm việc với người tiến hành tố tụng
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSCT ngày 24/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1, Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Về vật chứng thu giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 áo thun tay ngắn, không cổ, màu xanh lá, 01 quần sọt xanh rêu.
Về giải quyết trách nhiệm dân sự: các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự khác, không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, thống nhất luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định, bị cáo T có hành vi trộm cắp tài sản của hai bị hại với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 15.300.000 đồng.
4
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng:
Bị cáo T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã tác động xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương. Về mặt chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện.
Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội do vậy cần phải xử lý nghiêm hành vi bằng chế tài hình sự, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt và phòng ngừa chung.Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi và thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên HĐXX có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 cái áo thun ngắn tay, không cổ áo màu xanh lá, 01 cái quần sọt màu xanh rêu, có 02 túi hai bên và 02 túi ở phía dưới của quần là tài sản thu giữ của bị cáo không giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Về trách nhiệm dân sự: các tài sản bị mất trộm đã trao trả xong cho các bị hại, các bị hại không ý kiến yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
[3] Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự thống nhất đề nghị của VKS.
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm i,q,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2025
2/ Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 cái áo thun ngắn tay, không cổ áo màu xanh lá và 01 cái quần sọt màu xanh rêu, có 02 túi hai bên và 02 túi ở phía dưới của quần
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành)
3/ Về án phí hình sự sơ thẩm:
5
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
*Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Tường |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
