Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày 25-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Điền, bà Nguyễn Thị Phẩm, bà Nguyễn Thị Tần

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quỳnh Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bùi Phú T - sinh năm 1997 tại huyện K, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Tổ B, khu I, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Nam B - sinh năm 1963 và bà Lê Thị T1 - sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPVPHC ngày 01/4/2021 của Công an huyện P xử phạt T 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, ngày 29/4/2021 T đã nộp xong toàn bộ số tiền phạt; tạm giữ, tạm giam: Tạm giam từ ngày 12/12/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Chu Văn Q - là Luật sư của Công ty L thuộc đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ. Địa chỉ: Số nhà A đường M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Bị cáo T và ông Q đều có mặt)

2. Nguyễn Duy K - sinh ngày: 02/01/2006 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T2 - sinh năm 1974 và bà Đỗ Thị K1 - sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Tạm giam từ ngày 04/3/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Người bào chữa cho bị cáo K: Ông Nguyễn Quốc T3 - là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc đoàn Luật sư tỉnh P. Địa chỉ: Số nhà A đường H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Bị cáo K và ông T3 có mặt)

Người bị hại:

1. Anh Nguyễn Minh T4 - sinh năm 1992

Địa chỉ: Khu B, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

(Vắng mặt)

2. Anh Tạ Quang T5 - sinh năm 1983 (Đã chết)

Địa chỉ: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện cho anh T5: Anh Tạ Văn Q1 - sinh năm 1991 (Là em trai của anh T5). Địa chỉ: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Nam B - sinh năm 1963

Địa chỉ: Tổ B, khu I, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 24/8/2024, Bùi Phú T - sinh năm 1997, trú tại tổ B, khu I, phường N, thành phố V đi xe máy BKS: 19M1-029.22 của T đến nhà anh Tạ Quang T5 - sinh năm 1983 ở đội B, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để dự ăn giỗ mẹ của anh T5 do chị Đỗ Thị Bích T6 - sinh năm 1976 ở phường M, thành phố V chơi cùng anh T5 mời. Khi đến nơi, T thấy mọi người đang ngồi ăn uống tại phòng khách nhà anh T5, ngoài anh T5 và chị T6 còn có anh Nguyễn Minh T4 - sinh năm 1992 ở xã C, huyện L, anh Đào Thành C - sinh năm 1987 ở khu A, xã V, huyện H, anh Lê Tiến S - sinh năm 1983 ở xã T, thành phố V và anh Lê Anh T7 - sinh năm 1991 ở xã S, huyện L. T vào ngồi cạnh anh T7 rồi đến anh T5 và ăn uống cùng những người trên. Trong lúc ăn và uống rượu, T cởi áo đang mặc của mình ra, anh T7 và anh T5 thấy T có hình xăm con đại bàng trên người nên có những lời lẽ trêu đùa, như “Thằng này đủ tuổi đâu.., thằng này đánh lúc nào cũng được..., loại đại bàng này nhổ lông lúc nào cũng được...” dẫn đến đôi bên có lời qua tiếng lại, to tiếng với nhau.

2

Ngay lúc đó, T bực tức nên đi bộ ra khỏi nhà anh T5 một đoạn khoảng 50 mét, rồi lấy điện thoại di động gọi cho Nguyễn Duy K - sinh năm 2006, trú tại xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là người ở cùng phòng trọ với T tại thị trấn P, huyện P và bảo K “Mày mang đồ xuống T cho tao, tao đang bị mấy thằng quây”, ý T nói là mang bao tải đựng dao, kiếm để ở phòng trọ xuống khu công nghiệp T cho T để đánh nhau, do K ở cùng nhà trọ nên biết vị trí cất giấu bao tải đựng dao trong phòng.

Lúc này, K đang ngồi uống nước cùng Nguyễn Ngọc H - sinh năm 2005, trú tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ tại quán nước ở hè đường, do K không có xe nên nhờ H chở K đi có việc. H đồng ý và điều khiển xe máy của H chở K về phòng trọ, H ở ngoài đợi, K vào phòng ngủ lấy trong tủ quần áo một bao tải nhựa bên trong có 01 thanh kiếm dài 100cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi kiếm bằng kim loại sắc, nhọn; 01 con dao mèo dài khoảng 70cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại sắc, nhọn và 01 con dao quắm dài khoảng 70cm quay ra để bao tải ở giá đèo hàng trước xe rồi K điều khiển xe chở H đến chỗ T theo vị trí mà T gửi cho K qua ứng dụng Messenger. Khi K chở H đi qua đoạn đường gần Đền H1 thì gặp Nguyễn Công V - sinh năm 2005, trú tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang điều khiển xe máy chở phía sau 01 nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân). Do quen biết nên V hỏi H đi đâu đấy, H vừa cười vừa nói “đi đánh nhau”, V nghe thấy vậy nên đi theo xe H.

Khi K đến gặp T đang đứng đợi ở ngoài đường thì K đưa bao tải cho T, T mở bao tải lấy ra 01 thanh kiếm dài 100cm cầm trên tay phải, tay trái cầm bao tải và bảo K điều khiển xe mô tô chở T, T chỉ đường đi vào nhà anh T5. H, V và nam thanh niên thấy vậy cũng đi theo phía sau. Đến cổng nhà anh T5 thì cả nhóm dừng lại, đứng ngoài; T xuống xe rồi một mình chạy vào trong nhà anh T5 và để bao tải đựng dao xuống sân, hai tay T cầm kiếm chạy vào trong phòng khách thấy nhóm người trong nhà anh T5 vẫn đang ngồi ăn uống. Thấy anh Nguyễn Minh T4 đang đứng đối diện, cách T khoảng 01 mét, T giơ kiếm lên chém một nhát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải trúng vào vùng đỉnh đầu bên phải làm anh T4 bị thương và bỏ chạy. T tiếp tục cầm kiếm bằng hai tay hướng về phía anh T5 đang ngồi khoanh chân, cách T khoảng 01 mét rồi giơ lên chém anh T5 nhưng không trúng vì lưỡi kiếm bị văng tuột khỏi chuôi. T chạy ra ngoài sân cách khoảng 05 mét, vứt bỏ chuôi kiếm, lấy trong bao tải ra 01 con dao mèo kích thước dài khoảng 70cm rồi chạy vào trong nhà, T cầm dao bằng hai tay giơ lên chém liên tiếp 02 nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu của anh T5 khi anh T5 đang ngồi, anh T5 bị thương và đứng lên bỏ chạy, T đuổi theo cách khoảng 01 bước chân, chém thêm 01 nhát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, trúng vào lưng anh T5. Anh T5 bỏ chạy nhưng T vẫn tiếp tục đuổi theo chém vào vùng tay phải và gối trái đến khi lưỡi dao bị tuột khỏi chuôi dao, T vứt chuôi dao xuống nền nhà. T chạy ra ngoài sân lấy tiếp con dao quắm còn lại trong bao tải rồi chạy vào nhà để chém anh T5 nhưng được mọi người ôm, can ngăn nên không chém được. Lúc này K đã vào đứng ở trong sân, thấy không

3

có ai dám đánh lại T nên cũng đến can ngăn, T vứt bỏ dao quắm rồi đi ra cùng cả nhóm rời khỏi nhà anh T5.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập đồ vật có liên quan và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật. Kết quả khám nghiệm hiện trường tại phòng khách nhà ở của anh T5 đã xác định có 03 vùng chất dịch màu nâu đỏ rải rác từ trong phòng khách ra thềm nhà và bám dính trên 01 bao tải xác rắn; 01 vùng dấu vết trượt xước trên mặt phản gỗ tại phòng khách. Tạm giữ: 01 chuôi dao bằng gỗ, bên ngoài được bọc 07 miếng kim loại màu vàng, đoạn tiếp giáp giữa chuôi dao và lưỡi dao được bọc miếng kim loại màu đen, đã qua sử dụng; 01 cây kiếm có tổng chiều dài 100 cm, có cán gỗ sơn màu nâu đỏ, có lưỡi bằng kim loại bị hoen gỉ và bị cong, lưỡi sắc, đầu nhọn, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao tải thức ăn chăn nuôi, đã qua sử dụng.

Kết quả xác định thương tích ban đầu:

+ Anh Tạ Quang T5: Vùng đỉnh đâu có 02 vết thuong kích thước tầm 5 cm, sắc gọn, trúng nhiều máu, Vùng cột sống lưng ngang mức D11- L1 có vết thương tầm 5 cm, còn rỉ máu, C1 sọ não vỡ xương trán phải. Anh T5 được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P từ ngày 24/08/2024 đến ngày 04/09/2024 thì ra viện. Theo bệnh án điều trị của Bệnh viện đa khoa tỉnh P, anh T5 bị đa chấn thương: Chấn thương sọ não, vỡ xương trán phải, chấn thương hàm mặt - chấn thương phần mềm cột sống thắt lưng; đa thương tích phần mềm do bị chém.

+ Anh Nguyễn Minh T4, bị vết thương ở đỉnh đầu bên phải khoảng 3cm, do thương tích nhẹ nên anh T4 tự sơ cứu không đi điều trị ở đâu.

Sau khi xảy ra vụ việc, Bùi Phú T và Nguyễn Duy K đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành P để đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, ngày 18/9/2024 và 29/9/2024 gia đình Bùi Phú T đã bồi thường cho anh Tạ Quang T5 số tiền 120.000.000 đồng; bồi thường cho anh Tạ Minh T8 số tiền 15.000.000đ; anh T5 và anh T8 không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Ngoài ra, anh T5 cung cấp do bản thân bị bệnh ung thu gan giai đoạn cuối, sức khoẻ yếu, khó khăn đi lại nên xin từ chối giám định thương tích.

Đến ngày 07/12/2024, anh Tạ Quang T5 đã tử vong, theo 02 bệnh án điều trị gần nhất trước khi tử vong đợt 1: Từ 11/11/2024 đến 19/11/2024 và đợt 2: Từ 28/11/2024 đến 29/11/2024 thì anh T5 được chuẩn đoán bệnh: U ác của gan và đường mật trong gan (giai đoạn muộn). Theo cung cấp của anh Tạ Văn Q1 là em trai ruột và là người đại diện gia đình anh Tạ Quang T5 và theo nội dung Giấy trích lục khai tử đề ngày 07/12/2024 do Ủy ban nhân dân xã T cấp thì nguyên nhân tử vong của anh Tạ Quang T5 là do bệnh lý.

4

* Tại bản kết luận thương tích số 237 ngày 23/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P:

1. Các kết quả chính: Vết sẹo đỉnh đầu bên phải 01%

2. Kết luận tại thời điểm giám định:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Minh T4 là: 01%.

Cơ chế hình thành vết sẹo đỉnh đầu bên phải: Do tác dộng của vật sắc gây nên.

* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 12 ngày 24/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P. Kết luận:

- Vết thương số 1 vùng trán thái dương đỉnh: 03%

- Vết thương số hai vùng trái thái dương đỉnh: 03%

- Vỡ xương trái phải: 8%

- Vết thương vùng lưng: 2%

- Vết thương khủy tay trái: 1%

- Vết thương gối trái: 1%

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Tạ Quang T5 là: 18%.

Cơ chế hình thành 02 vết thương vùng trái thái dương đỉnh, vỡ xương trán phải, vết thương vùng lưng, khủy tay phải và gối trái: Khả năng do vật sắc gây nên.

* Tại bản Kết luận giám định số 1728 ngày 24/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận: Trên lưỡi dao gửi giám định không phát hiện được dấu vết máu người.

Quá trình điều tra, T và K đã được nhận dạng các vật chứng thu giữ tại hiện trường. T khẳng định con dao thu giữ tại hiện trường là T sử dụng để chém anh T5 và anh K. Con dao này là T mua ở Lào Cai, sau khi mua xong T mang về cất giấu ở phòng trọ với mục đích nếu đánh nhau sẽ sử dụng. Việc cất giấu con dao này chỉ có T và K ở trọ cùng nên biết.

Trong thời gian bị tạm giam, T đã tác động đến ông B để bồi thường cho anh T5 và anh T4. Số tiền ông B đã bồi thường thay T cho anh T5 là 120.000.000 đồng, anh T4 là 15.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKPT-P2 ngày 07 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Bùi Phú T và Nguyễn Duy K về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ không thay đổi, bổ sung cáo trạng, giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Phú T và Nguyễn Duy K phạm tội “Giết người”.

5

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Phú T.

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Phú T.

Tuyên bố các bị cáo Bùi Phú T và Nguyễn Duy K phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Bùi Phú T từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2025.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xác nhận bị cáo T đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho anh T4 là 15.000.000 đồng, anh T5 là 120.000.000 đồng.

Tịch thu, tiêu hủy 01 chuôi dao bằng gỗ, bên ngoài được bọc bảy miếng kim loại màu vàng, đoạn tiếp giáp giữa chuôi dao và lưỡi dao được bọc miếng kim loại màu đen, đã qua sử dụng; 01 cây kiếm có tổng chiều dài 100cm, có cán gỗ sơn màu nâu đỏ, có lưỡi bằng kim loại hoen gỉ bị cong, lưỡi sắc, đầu nhọn, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao tải thức ăn chăn nuôi đã qua sử dụng của bị cáo T do không có giá trị sử dụng.

Trả lại bị cáo T 01 xe mô tô biển số 19M1-029.22, nhãn hiệu Yamaha, xe đã qua sử dụng và không có chìa khóa nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Phú T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Duy K vì là hộ nghèo và xin miễn án phí.

Ông Chu Văn Q là Luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Phú T trình bày: Viện kiểm sát truy tố bị cáo T về tội giết người theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự thì ông hoàn toàn nhất trí. Bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho người hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ông nội của bị cáo là Thương binh” nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luậ Hình sự. Căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội

6

đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất. Đối với chiếc xe mô tô hiện nay đang thu giữ là của bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày, khi sử dụng đến nhà anh T5 thì bị cáo không có ý định gây thương tích cho anh T5, chỉ đến khi hai bên xẩy ra mâu thuẫn thì bị cáo T mới dùng dao chém anh T5 nên chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo chiếc xe máy này. Đối với vật chứng là con dao không có giá trị sử dụng nên đề nghị tiêu hủy.

Ông Nguyễn Quốc T3 là Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy K trình bày: Viện kiểm sát truy tố bị cáo K theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự thì ông hoàn toàn nhất trí. Bị cáo K khi thực hiện hành vi phạm tội là người giúp sức cho bị cáo T nên vai trò là thứ yếu; quá trình điều tra và xét xử thì bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; ông nội của bị cáo là Thương binh; bà nội của bị cáo được thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; gia đình có hai người là Liệt sĩ” nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Nam B trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Bùi Phú T. Ngày 24/8/2024 T đã thực hiện hành vi dùng dao chém anh T5 và anh T4. Trong thời gian bị tạm giam T đã tác động đến ông để bồi thường cho anh T5 và anh T4, ông đã bồi thường cho anh T5 là 120.000.000 đồng và anh T4 là 15.000.000 đồng. Số tiền bồi thường này là của T do lao động mà có trước khi bị bắt nên ông không yêu cầu T trả lại ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Hành vi thực hiện của các bị cáo: Bị cáo T và K khai nhận hành vi thực hiện phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 24/08/2024, tại nhà ở của anh T5 ở xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc ngồi ăn uống giữa T và anh T4, anh T5 nên đã có lời qua tiếng lại, thách thức nhau. T đã đi ra ngoài gọi điện bảo K mang bao tải đựng dao, kiếm đến cho T để đánh nhau. K đã đồng ý giúp T nên đã mang dao đến cho T. Khi Nguyễn Duy K mang bao tải đựng dao đến cho T thì T đã lấy ra 01 thanh kiếm dài 100cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi kiếm

7

bằng kim loại sắc, nhọn cầm trên tay phải, còn tay trái cầm bao tải chứa 02 con dao rồi bảo K điều khiển xe máy chở T vào nhà anh T5. Đến cổng nhà anh T5 thì T xuống xe, đi vào sân đặt bao tải chứa 02 dao xuống, dùng hai tay cầm 01 thanh kiếm đi vào phòng khách rồi chém anh T4 một nhát theo hướng từ trên xuống nên đã trúng vào vùng đỉnh đầu bên phải của anh T4, anh T4 sợ hãi nên bỏ chạy. T tiếp tục dùng thanh kiếm chém anh T5 nhưng lưỡi kiếm bị tuột khỏi chuôi. T đi ra sân lấy 01 con dao mèo dài khoảng 70 cm, có chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại đầu lưỡi sắc nhọn chạy vào chém liên tiếp hai nhát theo hướng từ trên xuống vào vùng đầu anh T5, anh T5 vùng dậy và đứng lên bỏ chạy thì bị T chém tiếp một nhát vào vùng lưng anh T5 và chém vào tay phải, chân trái của anh T5. Đến khi con dao mèo bị hỏng lưỡi rơi khỏi cán thì T chạy ra lấy con dao quắm để tiếp tục chém anh T5 thì bị mọi người can ngăn nên không thực hiện được, sau đó T vứt dao và bỏ về. Hậu quả: Anh T7 bị 01 vết thương vùng đỉnh đầu bên phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Anh T5 bị chấn thương sọ não, vỡ xương trán phải, chấn thương hàm mặt, chấn thương phần mềm cột sống thắt lưng; đa thương tích phần mềm sau bị chém, tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể là 18%.

Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; Lời khai người bị hại, người làm chứng; Vật chứng vụ án và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và con dao là hung khí nguy hiểm nhưng bị cáo T đã dùng dao chém vào đầu của anh T7 và anh T5 là điểm trọng yếu của cơ thể. Anh T5 đã được mọi người đưa đến Bệnh viện cấp cứu nên sức khỏe đã được bình phục, anh T5 không chết là nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo, còn anh T7 bị thương tích nhẹ nên không đến Bệnh viện cấp cứu và điều trị vết thương. Hậu quả anh T5 bị thương tích với tỷ lệ % tổn thương cơ thể là 18%, anh T7 bị thương tích với tỷ lệ % tổn thương cơ thể là 01%. Nguyên nhân bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội là xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ giữa bị cáo T và anh T7, anh T5 nên lấy lý do đó để thực hiện hành vi chém anh T5 và anh T7, hành vi của bị cáo đã thể hiện tích chất côn đồ. Mặc dù hiện nay anh T5 đã chết nhưng do anh T5 bị bệnh u ác của gan và đường mật trong gan nên không phải là nguyên nhân của vết thương do bị cáo T chém anh T5. Bị cáo K không thực hiện hành vi cùng với T để chém anh T5 và anh T7 nhưng bị cáo K đã mang những con dao đến cho bị cáo T để thực hiện hành vi nên bị cáo K phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với bị cáo T với vai trò là giúp sức. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo nhận thức được hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật nên các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận gì về tội danh của các bị cáo. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Bùi Phú T và Nguyễn Duy K phạm tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã

8

truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt đối với các bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như sau:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) ...;

n) Có tính chất côn đồ.

Trong vụ án này, anh Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Công V là những người đi cùng với Nguyễn Duy K đến nhà anh T5 nhưng không biết các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Công V trong vụ án này.

[3] Tính chất vụ án: Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và gây hoang mang trong Nhân dân. Vì vậy, đưa các bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Vai trò đồng phạm: Vụ án có tích chất đồng phạm nhưng giản đơn, không mang tính tổ chức. Khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo T đã thực hiện tích cực, còn bị cáo K chỉ là người giúp sức cho bị cáo T về mặt tinh thần. Khi quyết định hình phạt thì xử phạt bị cáo T nghiêm khắc hơn bị cáo K, nhưng cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Đối với bị cáo T: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là “Bị cáo bồi thường cho người hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ông nội của bị cáo là Thương binh”. Nhân thân của bị cáo là xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sức khỏe của người khác, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù là phù hợp với tính chất vụ án.

Đối với bị cáo K: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là “Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; ông nội của bị cáo là Thương binh; bà nội

9

của bị cáo được thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; gia đình có hai người là Liệt sĩ”. Nhân thân của bị cáo là chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị xét xử nên nhân thân tốt. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, khi thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là giúp sức nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù là phù hợp. Vì vậy, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người lao động tự do, đại diện Viện kiểm sát đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Xét thấy 01 cây kiếm, 01 chuôi dao bằng gỗ và 01 vỏ bao tải thức ăn chăn nuôi đã qua sử dụng là của bị cáo T đã sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19M1-029.22 là của bị cáo T. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã gây thương tích cho anh T5 và anh T7. Ông Q1 là bố đẻ của bị cáo T đã bồi thường cho anh T5 120.000.000 đồng, anh T7 15.000.000 đồng. Ngoài số tiền bồi thường này, anh T5 và anh T7 không yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm bất cứ khoản tiền gì. Vì vậy, xác nhận bị cáo T đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho anh T5 và anh T7.

Đối với số tiền bồi thường cho anh T5 và anh T7, ông B và bị cáo T đều xác định số tiền này là của bị cáo do lao động mà có nên ông B không yêu cầu bị cáo T trả lại số tiền này nên không giải quyết.

[8] Án phí: Xét thấy bị cáo K là hộ nghèo và xin được miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Còn bị cáo T không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Xét thấy nội dung trình bày của Luật sư bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Phú T.

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duy K.

2. Tuyên bố các bị cáo Bùi Phú T và Nguyễn Duy K phạm tội “Giết người”.

10

3. Xử phạt bị cáo Bùi Phú T 09 (C2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 12/12/2024.

4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 06 (S1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 04/3/2025.

5. Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

6. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 và khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xác nhận bị cáo Bùi Phú T đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho anh Tạ Quang T5 là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Xác nhận bị cáo Bùi Phú T đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho anh Nguyễn Minh T4 là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Tịch thu, tiêu hủy 01 cây kiếm có tổng chiều dài 100cm, có cán gỗ sơn màu nâu đỏ, lưỡi dao bằng kim loại đang bị hoen gỉ và bị cong, lưỡi sắc, đầu nhọn, đã qua sử dụng; 01 chuôi dao bằng gỗ, bên ngoài được bọc bảy miếng kim loại màu vàng, đoạn tiếp giáp giữa chuôi dao và lưỡi dao được bọc miếng kim loại màu đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao tải thức ăn chăn nuôi đã qua sử dụng là của bị cáo Bùi Phú T do không có giá trị sử dụng.

Trả lại bị cáo Bùi Phú T 01 xe mô tô biển số 19M1-029.22, nhãn hiệu Yamaha, xe đã qua sử dụng và không có chìa khóa nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng tiêu hủy và xe mô tô hiện đang giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).

7. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Phú T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Duy K vì là hộ cận nghèo và xin miễn án phí.

8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

11

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp Cao;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - PC01, PC06 Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Luật sư (2);
  • - Bị cáo (2);
  • - Người bị hại (2);
  • - Người có QL, NV liên quan;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Khắc Chiên

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (giết người)

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Bùi Phú T và Nguyễn Duy K phạm tội giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger