|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 25/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
—————————
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Bùi Thị Bích Liễu; |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Thiện Đạo; |
| Ông Mai Gia Cát. |
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Xuân Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2025/HSST-QĐ ngày 13/6/2025 đối với bị cáo:
Lê Như D
Sinh năm 1982, tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 1 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Như D1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; Có vợ là Lâm Na V (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2005.
Tiền án: Bản án số 82/2023/HSST ngày 12/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/7/2024;
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Bản án số 202/1998/HSST ngày 26/8/1998, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo theo khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 21/10/1997. Đã đóng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Bản án số 281/2014/HSST ngày 21/11/2014, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 24/7/2014, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 6.747.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2015. Đã đóng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2025. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Safiulin Renat S, sinh năm 1981; Địa chỉ: P Khách sạn B, số A N, phường L, N. Quốc tịch K. Vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Ông Trần Văn T, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số H L, phường L, N. Vắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Trần Đức T1; Nơi cư trú: Số B H, V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/3/2025, Lê Như D đi quanh khu vực Q, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực bãi biển Đ thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro màu xám của ông Safiulin Renat S, sinh năm 1981, quốc tịch Kyrgyzstan, số hộ chiếu FE0503588, lưu trú tại Phòng 1502, khách sạn B, số A N, phường L, thành phố N đang để trong nôi đẩy xe em bé, không có người trông coi. D đi bộ đến lén lút lấy trộm điện thoại Iphone 13 Pro bỏ vào túi quần rồi bỏ đi, ông S1 Renat Shamilevich phát hiện, tri hô cùng người dân đuổi theo bắt giữ D giao cho Công an phường L, thành phố N lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố N, kết luận:
Giá trị 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro màu xám, dung lượng 256GB, số IMEI: 355015326930467, thời điểm định giá ngày 21/3/2025 là 8.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSKH-P1 ngày 27/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Lê Như D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Lê Như D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Như D mức án từ 01 (một) đến 02 (hai) năm tù.
- - Bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người phiên dịch và người làm chứng vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, 293 và 295 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại cũng như người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/3/2025, tại khu vực bãi biển Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Lê Như D có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro màu xám, dung lượng 256GB có giá trị 8.000.000 đồng của ông Safiulin Renat S (quốc tịch Kyrgyzstan).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do coi thường pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương.
Bị cáo có nhân thân rất xấu, có một tiền án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích và hai bản án khác bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội lần này cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và tuyên mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, răn đe bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Safiulin Renat S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) cho bị cáo.
Vật chứng được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
[2] Xử phạt: Bị cáo Lê Như D 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) cho bị cáo.
Vật chứng được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
[5]Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Liễu |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Như Danh trộm cắp tài sản
