Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày 23-10-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và ông Đường Ngọc Đại

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1991 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, phường X, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N; vợ là Lê Thị H (đã ly hôn), con: có 03 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016);

- Tiền án: 05

  1. Tại bản án số 19/2014/HSST ngày 17.3.2014 của Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm b,p khoản 1,2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Quyết 2 năm 3 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, án phí HSST 200.000, đã chấp hành xong án phí ngày 5.5.2014. Ra trại ngày 31.8.2015.
  2. Tại bản án số 155/2016/HSST ngày 19.12.2016 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, p khoản 1 Điều 46, điểm g ( tái phạm) khoản 1 Điều 48BLHS năm 1999 xử phạt Quyết 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, án phí HSST 200.000đ, đã chấp hành xong án phí ngày 8.2.2017. Ra trại ngày 24.5.2017.
  3. Tại bản án số 70/2017/HSST ngày 23.11.2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g ( phạm tội nhiều lần) khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 xử phạt 1 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, giá trị tài sản phạm tội 02 lần là 1.699.000đ, án phí HSST 200.000đ, đã chấp hành xong án phí ngày 9.1.2018. Ra trại ngày 7.8.2018.
  4. Tại bản án số 85/2018/HSTT ngày 12.11.2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g ( phạm tội nhiều lần) khoản 1 Điều 52BLHS năm 2015 xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc Q phải trả cho chị Nguyễn Thị Kim T1 số tiền 4.600.000đ, truy thu Quyết 600.000đ, án phí HSST 200.000đ, án phí DSST 300.000đ, chấp hành xong án phí năm 2019, chưa chấp hành bồi thường và truy thu. Ra trại ngày 15.2.2022.
  5. Tại bản án số 140/2022/HSST ngày 29.9.2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b,s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 xử phạt Quyết 2 năm 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, án phí HSST 200.000đ, đã chấp hành xong án phí 8.11.2022. Ra trại 21.12.2024.

- Tiền sự: Không;

Nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 7 năm 2025 đến nay, “có mặt”.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Bị hại: Anh Phan Văn S, sinh năm, 1991;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, tỉnh Tuyên Quang, “vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn Đ, phường X, tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.

+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991 trú tại thôn Đ, phường X, tỉnh Phú Thọ là công nhân làm việc thời vụ tại Khu công nghiệp B, xã B, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 10/7/2025, Nguyễn Văn Q làm ca đêm từ 20h00 ngày hôm trước đến 08h00 ngày hôm sau, do thiếu tiền tiêu sài cá nhân nên Q nảy sinh ý định đi làm sớm để tranh thủ tìm vào các khu dân cư gần nơi Q làm việc để tìm kiếm sơ hở của người dân để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 18 giờ 00 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave gắn BKS: 88K3-3368, đi từ nhà ở phường X, tỉnh Phú Thọ đến thôn Q, xã B, tỉnh Phú Thọ thì thấy khu trọ của anh Nguyễn Văn T2 không khóa cổng. Lợi dụng sơ hở này, Q đi vào bên trong khu trọ và thấy phòng trọ số 17 của anh Phan Văn S, sinh năm 1991 trú tại Đ, P, Tuyên Quang chốt cửa bên ngoài nhưng không khóa. Quyết kéo chốt và mở hé cửa và ngó vào bên trong thì thấy bên trong không có ai nên Q đã đi vào trong phòng để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi bước vào trong phòng, Q thấy tại vị trí đầu giường trong phòng trọ có 01 ví da màu đen, Q tiến đến cầm chiếc ví này và mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có số tiền 2.000.000đ ( gồm 4 tờ mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng) và một số tờ tiền lẻ có mệnh giá thấp hơn thì Q lấy 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và để lại tiền lẻ và gập ví lại và để ở vị trí cũ, rồi cất giấu số tiền trộm cắp được là 2.000.000 đồng vào túi quần bên phải phía trước của Q đang mặc và nhanh chóng đi ra khỏi phòng trọ nhưng khi đi đến cửa phòng trọ thì bị anh S phát hiện và trình báo cơ quan Công an.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp nêu trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

* Vật chứng thu giữ:

+ Thu giữ của Nguyễn Văn Q:

T3 tại túi quần phía trước bên phải đang mặc của Q số tiền 2.000.000 đồng. Q khai nhận đây là số tiền trộm cắp của anh Phan Văn S, đề nghị trả lại cho anh S.

Ngoài ra còn thu của Q số tiền: 1.563.000đồng. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền do Quyết lao động tích cóp được mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị can nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave BKS 88K3-3368; 01 đăng ký xe. Quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960 trú tại thôn Đ, phường X, tỉnh Phú Thọ (là mẹ đẻ của Q) không biết việc Q sử dụng tài sản trên để đi trộm cắp tài sản nên ngày 24.9.2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại cho bà N, bà N nhận lại và không có yêu cầu đề nghị gì.

01 căn cước công dân; 01 thẻ công nhân số ZC03684 mang tên Nguyễn Văn Q. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Q không liên quan đến hành vi phạm tội, Q nhờ bà N nhận lại nên ngày 24.9.2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại cho bà N.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSKV8 ngày 03 tháng 10 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 02 năm 9 tháng đến 03 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giam bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, xong trong giai đoạn điều tra đã có lời khai, phù hợp với lời khai của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản sự việc, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng vụ án thu giữ được. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18h15 phút ngày 10/7/2025 tại phòng trọ của anh Phan Văn S tại xã B, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Văn Q có hành vi trộm cắp 2.000.000đồng (tiền mặt) của anh Phan Văn S.

Hành vi của Nguyễn Văn Q trong vụ án này đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, vì trước khi phạm tội Q đã bị kết án tại Bản án số 140/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, mặc dù đã chấp hành án xong nhưng chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục cố ý phạm tội nên lần phạm tội này của Q thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ quyết định truy tố bị cáo Q theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm

...”

[3]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.

[4]. Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có sức khỏe nhưng không chịu tu chí làm việc, ham lợi trước mắt, bất chấp kiếm tiền bất hợp pháp nên đã phạm tội trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng 05 lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, trong đó có 04 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, điều này chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, hành vi trộm cắp tiền lần này thể hiện bị cáo rất liều lĩnh, bất chấp và coi thường pháp luật. Vì vậy cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nghiêm khắc hơn mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này.

Tuy nhiên sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, đó là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nên đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quá trình điều tra làm rõ bị cáo Q không lấy việc trộm cắp làm nguồn sống chính nên hành vi trộm cắp của bị cáo không mang tính chất chuyên nghiệp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa đã làm rõ, Nguyễn Văn Q không có tài sản và thu nhập gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Q.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 2.000.000 đồng T3 tại túi quần phía trước bên phải đang mặc của Q. Q khai nhận đây là số tiền trộm cắp của anh Phan Văn S nên trả lại cho anh S là phù hợp;
  • - Số tiền: 1.563.000đồng thu của bị cáo. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền do Quyết lao động tích cóp được mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Q nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave BKS 88K3-3368; 01 đăng ký xe. Quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960 trú tại thôn Đ, phường X, tỉnh Phú Thọ (là mẹ đẻ của Q), bà N không biết việc Q sử dụng tài sản trên để đi trộm cắp tài sản nên ngày 24/9/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại cho bà N, bà N nhận lại và không có yêu cầu đề nghị gì là phù hợp.
  • - 01 căn cước công dân; 01 thẻ công nhân số ZC03684 mang tên Nguyễn Văn Q. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Q không liên quan đến hành vi phạm tội, Q nhờ bà N nhận lại nên ngày 24/9/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại cho bà N là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11 tháng 7 năm 2025.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • - Trả lại anh Phan Văn S 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) là tiền do bị cáo Q trộm cắp của anh S.
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Q 1.563.000đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng) là tiền của Q không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 10 năm 2025 giữa Công an tỉnh P và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Phú Thọ).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hô sơ vụ án + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 23/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo có nhân thân xấu đã 4 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nay lại phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger