Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày: 18/6/2025

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Đặng Thị Lan
    2. Bà Vũ Thị Thuỳ Dương

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Phước T, sinh năm 2000, tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ D, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: thợ mổ heo; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: công giáo; Con ông Nguyễn Phước T1, sinh năm 1968 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Ái L, sinh năm 1972 (còn sống); Gia đình có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; H và tên vợ: Hồ Thị Kim H1, sinh năm 1989 và có 01 người con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 07/01/2021 bị Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 16/QĐ/TA.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/11/2024 và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (nay là P trại tạm giam khu vực C - Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) cho đến nay.

2. Họ và tên: Lý Minh N, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Minh H2, sinh năm 1968 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1970 (còn sống); Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; H và tên vợ: Lê Thị Ngọc T2, sinh năm 1999 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • + Ngày 06/5/2013, bị Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em”, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/01/2014.
  • + Ngày 14/12/2020 bị Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 06/QĐ/TA.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/11/2024 và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (nay là P trại tạm giam khu vực C - Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) cho đến nay.

(các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Anh Lầu Công Đ, sinh năm 2003 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

* Người làm chứng:

  • + Anh Ngô Hoàng Bảo K, sinh năm 2006 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  • + Chị Hồ Thị Kim H1, sinh năm 1989 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Nguyễn Thị Ái L, sinh năm 1972 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phước T và Lý Minh N là bạn chơi chung với nhau.

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 28/11/2025, T rủ N đi lấy quần áo đã đặt mua của anh Lầu Công Đ, sinh năm 2003 ngụ ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì N đồng ý và đã điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nozza màu trắng, biển số 60B8-212.52 mượn của bà Nguyễn Thị Ái L (mẹ ruột của T) chở N. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T và N đến trước nhà anh Đ. Sau khi thỏa thuận, anh Đ yêu cầu T thanh toán số tiền 5.200.000 (Năm triệu hai trăm ngàn) đồng bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 212052003 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q của chị Hỷ Chìu D (bạn gái của Đ), T đồng ý và gọi điện thoại chị Nguyễn Thị Diệu H3 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) nhờ chuyển tiền giùm. Sau đó, T đưa hình ảnh thể hiện giao dịch chuyển khoản thành công vào tài khoản ngân hàng của chị D nhưng anh Đ nói chưa nhận được tiền nên chưa giao hàng cho T và hai bên nảy sinh tranh cãi. Lúc này, anh Đ bỏ đi về đường hẻm phía đối diện nhà anh Đ nên T và N đi theo đến chỗ của Đ đang đứng. T dùng tay kẹp cổ Đ kéo ra phía ngoài đường, N dùng tay đấm vào người Đ một cái. Sau đó T dùng tay đánh anh Đ và giật trên tay của anh Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, T tiếp tục đánh anh Đ một cái làm anh Đ ngã xuống đất rồi quay lại chỗ xe máy xe. Lúc này, anh Đ đứng dậy đuổi theo để lấy lại điện thoại thì bị N dùng tay đẩy lại để ngăn cản rồi cùng T nhanh chóng tẩu thoát.

Sau đó, anh Đ cùng anh Ngô Hoàng Bảo K, sinh năm 2006, thường trú ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai và một số người dân đuổi theo T, P1. Khi đến khu vực ngã ba X thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì anh Đ đuổi kịp và bắt được T và P1.

Tại bản Kết luận giám định giá trị tài sản số: 43/KL-HĐĐG ngày 09 tháng 12 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 500.000 đồng.

* Vật chứng và xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ là tài sản hợp pháp của anh Lầu Công Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho anh Đ.
  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza màu trắng, biển số: 60B8-212.52, do bà L không biết việc T mượn chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả xe lại cho bà L.
  • - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A31 màu đen và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen là tài sản của N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho N.
  • - 01 USB màu trắng hiệu Toshiba, bên trong lưu trữ 01 đoạn video dài 04 phút 05 giây ghi lại cảnh Nguyễn Phước T điều khiển xe mô tô chở Lý Minh N đến gặp anh L1 Công Đức vào lúc 22 giờ 02 phút ngày 28 tháng 11 năm 2024 và 01 đoạn video dài 02 phút 58 giây ghi lại cảnh T, Nhật thực hiện hành vi cướp tài sản của bị hại Đ vào lúc 22 giờ 05 phút ngày ngày 28 tháng 11 năm 2024. Đưa vào hồ sơ vụ án

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lầu Công Đức không có yêu cầu về vấn đề dân sự.

Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKSCM ngày 05 tháng 5 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phước T và Lý Minh N về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị:

Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Căn cứ Điều 168 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phước T và Lý Minh N về tội “Cướp tài sản”.

Về hình phạt:

+ Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước T và Lý Minh N mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lầu Công Đức không có yêu cầu về vấn đề dân sự nên đề nghị không xem xét.

- Về vật chứng vụ án: đã xử lý xong và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, các bị cáo không trình bày ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: vào khoảng 22 giờ 05 phút, ngày 28/11/2024, tại đoạn đường tỉnh lộ DT764 thuộc ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Phước T và Lý Minh N đã có hành vi sử dụng vũ lực, đánh anh Lầu Công Đ và chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ của anh có trị giá 500.000 đồng thì bị bắt giữ.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi do các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số: 53 ngày 05/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhận thấy: Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là những công dân đã trưởng thành, các bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật có hành vi dùng vũ lực và chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp gây thiệt hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây hoang mang trong cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương.

[4] Xét tính chất đồng phạm của các bị cáo trong vụ án nhận thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo T là người dùng tay kẹp cổ anh Đ kéo ra phía ngoài đường và giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ từ tay anh Đ. Bị cáo N đồng phạm với vai trò là người giúp sức, nên bị cáo T có vai trò cao hơn và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo N.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

[6] Về quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thì thấy: các bị cáo đều có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[8] Về vật chứng vụ án: đã xử lý xong và đúng quy định của pháp luật nên không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ về việc đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phước T, Lý Minh N phạm tội “Cướp tài sản”.

+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 168, điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước T: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2024.

Xử phạt: Bị cáo Lý Minh N: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2024.

2. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Phước T, Lý Minh N mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS tỉnh Đồng Nai;
  • - PHSNV Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA.DS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Khuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp tài sản

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phước T + đp phạm tội phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger