|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 17/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hoàng Long
2. Bà Võ Thị Kim Son
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tưởng, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Trần Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
-
LÊ DUY H (H Hí), sinh ngày 04/9/1998, tại Cần Thơ
Nơi cư trú: C B, khu V, phường B, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lê Duy H1 (chết) và bà Huỳnh Thị Thanh T (chết);
Tiền sự: - Ngày 22/9/2023 bị Tòa án nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng;
- Ngày 30/5/2025 bị Tòa án nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng;
Tiền án: Không;
Nhân thân: - Ngày 10/02/2016 bị Ủy ban nhân dân phường B, quận B, thành phố Cần Thơ phạt 1.250.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích (chưa đóng phạt);
- Ngày 06/5/2019 bị Công an phường L, quận B, thành phố Cần Thơ phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt);
- Ngày 27/4/2022 bị Công an quận B, thành phố Cần Thơ phạt 6.500.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng (chưa đóng phạt);
Bị bắt tạm giam ngày 03/9/2025 (Có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam số 01, Công an thành phố Cần Thơ).
-
LƯƠNG KIM H3 (H3 Pô), sinh ngày 01/01/1985, tại Cần Thơ
Nơi cư trú: A T, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: thợ điện dân dụng; Trình độ văn hóa: 01/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lương Kim H2 (chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ D (sống);
Có vợ: Tô Thị Kiều L (đã ly hôn) và 02 người con;
Tiền sự: - Ngày 24/3/2025 bị Công an phường C, quận N, thành phố Cần Thơ phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt);
- Ngày 22/5/2025 bị Tòa án nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng;
Tiền án: Không;
Nhân thân: Ngày 28/9/2017 bị Tòa án nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản (chấp hành xong ngày 18/01/2020);
Bị bắt tạm giam ngày 03/9/2025 (Có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam số 01, Công an thành phố Cần Thơ).
- Bị hại: Phạm Thị T1, sinh năm 1976
Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1993
- Lê Thị Mộng T2, sinh năm 1984
Nơi cư trú: B B, khu V, phường B, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú: A M, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/6/2025, Lê Duy H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Mio Ultimo, màu trắng, biển số: 65U1-6986 của bà Lê Thị Hồng L1 (cô ruột của H) chở Lương Kim H3 đi trốn sau khi biết được thông tin H3 có quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. H điều khiển xe chở H3 khi đi ngang một sạp bán cá, rau, củ, quả trên tuyến hương lộ Đ - T thuộc địa phận ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ thì H phát hiện có một chiếc xe máy đang đậu cặp lộ không ai trông coi, trên bara xe có một chiếc túi xách nên H nảy sinh ý định lấy trộm, H có trao đổi với H3 và H3 đồng ý. Sau khi chạy qua chạy lại vài vòng thì H điều khiển xe tiếp cận túi xách để H3 dùng tay trái lấy túi xách rồi tăng ga tẩu thoát, khi đến đoạn đường vắng thì H và H3 kiểm tra tài sản bên trong gồm có: 01 điện thoại di động hiệu S, màu vàng chanh, không rõ kiểu máy, 01 cái bóp đựng viết bên trong có nhiều loại viết mực, 01 cái bóp bằng vải bên trong có 12.000 đồng, gồm: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng, sau đó H lấy 12.000 đồng bỏ vào túi, H đưa điện thoại di động hiệu Samsung cho H3 giữ còn chiếc túi xách và các vật dụng còn lại có trong túi xách thì bỏ lại trên đường, được người dân nhặt được giao cho Công an xã T. Sau đó H chở H3 đến Cửa hàng Đ, bán điện thoại di động hiệu Samsung cho chị Lê Thị Mộng T2 với giá 1.800.000 đồng, H3 đưa trước cho H 100.000 đồng tiền xăng, còn 1.700.000 đồng còn lại chia đôi, mỗi người 850.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản bà Phạm Thị T1 đã đến cơ quan Công an trình báo vụ việc, có yêu cầu xử lý H3 và H theo quy định của pháp luật và trả lại tài sản cho bà.
Kết luận định giá tài sản số: 600/KL-HĐĐG ngày 17/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện T kết luận: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu S A24 có giá là 3.400.000 đồng; 01 túi xách nữ, chất liệu giả da, màu đen, kích thước 40x28x12cm (đã qua sử dụng) và 01 kính cận (đã qua sử dụng) không định giá do không khảo sát được giá, không xác định được giá của tài sản (Bút lục số 82, 83).
Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐG ngày 10/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân xã T kết luận: 01 bảng tên có dây đeo, có giá 25.000 đồng, 01 ví tiền nữ, kích thước 20x10x2cm trị giá 150.000 đồng, 05 quyển tập học sinh loại 100 trang có giá 45.000 đồng và 03 cây viết mực trị giá 27.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 247.000 đồng (Bút lục số 227,228).
Tại cơ quan điều tra, Lê Duy H và Lương Kim H3 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án như trên.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Mio Ultimo, màu trắng, biển số: 65U1-6986. Qua xác minh chủ sở hữu là bà Hồ Tuyết L2, tuy nhiên bà L2 đã bán xe trên cho người khác vào khoảng tháng 5/2024. Đến ngày 09/3/2025 bà Lê Thị Hồng L1 đến cửa hàng M mua xe trên với giá là 6.200.000 đồng, nhưng chị chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Vào ngày 04/6/2025 bị cáo Lê Duy H sử dụng xe trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bà L1 không biết.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSKV3 ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Duy H, Lương Kim H3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Duy H, Lương Kim H3 thừa nhận sự việc như nội dung cáo trạng. Vào khoảng 11 giờ ngày 04/6/2025 lợi dụng lúc bà Phạm Thị T1 để túi xách trên bara xe máy đậu cặp lề đường, bà T1 đang mua đồ ở sạp bán cá, rau, củ nên không coi giữ tài sản, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Mio U chở H3 tiếp cận để H3 lấy túi xách. Khi H3 lấy được túi xách thì bà T1 phát hiện truy hô nhưng H và H3 tẩu thoát được. Các bị cáo lục trong túi xách lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 12.000 đồng, còn túi xách và các vật dụng khác thì bỏ lại trên đường. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì 01 điện thoại di động hiệu Samsung có giá 3.400.000 đồng, các vật dụng khác gồm bảng tên có dây đeo giá 25.000 đồng, 01 ví nữ giá 150.000 đồng, 05 quyển tập giá 45.000 đồng, 03 cây viết mực giá 27.000 đồng và số tiền 12.000 đồng, tổng giá trị tài sản các bị cáo đã lấy là 3.659.000 đồng. Hành vi của các bị cáo lợi dụng sự sở hở của bị hại để tài sản ngoài tầm kiểm soát quản lý, các bị cáo lén lút lấy được tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[2] Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội; đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo H từ 09 tháng đến 01 năm tù, bị cáo H3 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
[3] Các bị cáo đều đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng chưa thi hành thì lại cùng nhau thực hiện hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của các bị cáo xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây ảnh hưởng đến an toàn trật tự tại địa phương, các bị cáo đều có tiền sự, biết hành vi chiếm đoạt tài sản vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, cần có hình phạt nghiêm nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử có xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng mà giảm nhẹ một phần hình phạt.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo H, H3 bán điện thoại di động hiệu Samsung cho chị Lê Thị Mộng T2 với giá 1.800.000 đồng, chị T2 có yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền này, các bị cáo đồng ý với yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị hại yêu cầu nhận lại điện thoại, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Đối với các vật chứng thu giữ gồm tài sản bị lấy trộm là điện thoại di động hiệu S, bị hại T1 có yêu cầu nhận lại là phù hợp, riêng những tài sản và vật dụng khác không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Chiếc xe mô tô hiệu Mio Ultimo, biển số 65U1 – 6986 của Lê Thị Hồng L1 cho bị cáo H mượn đi làm, bà L1 không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên được trả lại cho chủ sở hữu. Về điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội được trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Duy H, Lương Kim H3 phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47, khoản 1 Điều 48, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H.
Xử phạt: bị cáo Lê Duy H 09 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 03/9/2025.
Xử phạt: bị cáo Lương Kim H3 01 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 03/9/2025.
Các bị cáo Lê Duy H, Lương Kim H3 có nghĩa vụ trả cho Lê Thị Mộng T2 số tiền 1.800.000 đồng.
Trả cho Phạm Thị T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A24, số IMEI 355827703130473.
Trả cho Lê Thị Hồng L1 01 xe mô tô nhãn hiệu Mio Ultimo, màu trắng – đỏ - xám – bạc, biển kiểm soát 65U1 – 6986, số máy 23B1008360, số khung RLCM23B109Y008351.
Trả cho bị cáo Lê Duy H 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 F, màu xanh, số IMEI 1: 869563049463554, số IMEI 2: 869563049463547.
Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách nữ giả da, màu đen, kích thước 40x12x28cm; 01 bảng tên Phạm Thị T1 có dây đeo cổ; 01 ví tiền nữ kích thước 20x10x2cm, bên trong có 01 giấy CCCD photo tên Phạm Thị T1; 05 quyển tập học sinh loại 100 trang; 03 cây viết mực.
Mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LIÊNG THỊ HỒNG HOA |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Duy H (2 bc)
