|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 12-11-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quỹ
- Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lã Ngọc Tiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Mai Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc T; sinh ngày 27-9-1974 tại tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Xuân D và bà: Trần Thị V; có vợ: Nguyễn Thị Hồng L (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Bản án số 259/2023/HS-ST ngày 27-10-2023, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Trần Ngọc T 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 20-9-2024); tiền sự: không; nhân thân: Ngày 24-11-1998, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Trần Ngọc T 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” và 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, tổng hợp hình phạt chung là 48 tháng tù, ngày 28-9-2001, Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Ngọc T 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 06-12-2002, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm phạt Trần Ngọc T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 11-5-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm miễn trách nhiệm hình sự cho Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12-8-2025 đến nay tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ngọc T là người nghiện ma túy đang tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh N (nay là tỉnh Ninh Bình) từ ngày 28-3-2025, hàng ngày T vẫn đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh tỉnh Ninh Bình để uống thuốc Methadone điều trị nghiện ma túy. Ngày 07-8-2025, Công an phường T, tỉnh Ninh Bình đã kiểm tra phát hiện mẫu nước tiểu của Trần Ngọc T dương tính với ma túy, loại ma túy Heroine. Cơ quan điều tra đã thu giữ mẫu nước tiểu của Trần Ngọc T trưng cầu giám định.
Bản kết luận giám định số 392/KL-KTHS ngày 09-8-2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, C và 6-MAM trong mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Ngọc T. Morphine, C và 6-MAM là các sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong nước tiểu; Heroine là chất ma túy có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất (STT: 9, Danh mục: IA).
Tại cơ quan điều tra, Trần Ngọc T khai: Chiều ngày 30-7-2025, T đi đến khu vực chợ Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình thì gặp D2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) và được D2 cho 01 gói Heroine đựng trong giấy bạc thuốc lá. T cầm gói Heroine mang về cất giấu ở túi quần trong tủ quần áo. Sáng ngày 31-7-2025, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18AA - 162.38 chở mẹ đẻ là bà Trần Thị V, sinh năm 1941 đi từ nhà đến số nhà C N, phường N, tỉnh Ninh Bình để điều trị bấm huyệt. T gửi xe tại cơ sở bấm huyệt và đi bộ lang thang đợi mẹ. Khoảng 07 giờ 30 phút, T thấy trong túi quần có gói Heroine của D2 cho nên đã đi vào khu vực nhà vệ sinh trong Trung tâm thương mại G, phường Đ, tỉnh Ninh Bình, đóng cửa, sử dụng bằng hình thức hít sau đó vất tờ giấy bạc vào trong thùng rác cạnh bồn vệ sinh, bỏ bật lửa vào trong túi và đi về phòng khám đón mẹ về nhà. Đến ngày 07-8-2025, T được Công an phường T, tỉnh Ninh Bình triệu tập làm việc và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Trần Ngọc T tại tổ dân phố P, phường T, tỉnh Ninh Bình không phát hiện, thu giữ gì.
Bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình truy tố Trần Ngọc T về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc T cho rằng bị cáo không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù vào tháng 9-2024 đến nay bị cáo không sử dụng ma tuý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Ngọc T theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Trần Ngọc T, Bản kết luận giám định số 392/KL-KTHS ngày 09-8-2025 của Phòng K Công an tỉnh N và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Trần Ngọc T là người đang điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma tuý từ ngày 28-3-2025 đến ngày 12-8-2025 theo bản tóm tắt bệnh án ngày 04-9-2025 và danh sách điều trị chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone ngày 29-7-2025 của Phòng khám Đ1 - Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh N. Tuy nhiên tại phiếu xét nghiệm tìm chất ma tuý trong nước tiểu ngày 07-8-2025 của Trạm y tế Lộc Hạ phường T, kết quả bị cáo dương tính với H. Kết luận giám định số 392/KL-KTHS ngày 09-8-2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Có tìm thấy các chất gồm M, C và 6-MAM trong 01 mẫu nước tiểu thu của Trần Ngọc T được niêm phong gửi giám định”. Như vậy có đủ căn cứ xác định trong thời gian điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, bị cáo Trần Ngọc T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, loại ma tuý: Heroine. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bố đẻ, mẹ đẻ của bị cáo được tặng thưởng H1, Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4]. Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Ngọc T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự xã hội, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, bản thân bị cáo đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5] Về vấn đề khác trong vụ án:
Bà Trần Thị V không biết việc bị cáo cất giấu và sử dụng ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng D2 đã cung cấp ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra không xác định được thông tin, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định của pháp luật
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Điều 38, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12-8-2025.
2. Án phí: Bị cáo Trần Ngọc T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc T được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Nhung |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về hình sự (sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Thành - Sử dụng trái phép chất ma tuý
