Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-PT

Ngày: 27/6/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và ông Lê Ngọc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Vũ Thị Thùy Phương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Biện Tấn Hoàng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 42/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 do có kháng cáo của các bị cáo Trần Thế V, Lê Văn T đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Trần Thế V (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/01/1980 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đang sinh hoạt đảng tại Chi bộ Tổ chức - Hành chính - Kế toán thuộc Đảng ủy Trung tâm y tế thị xã Đ; C: Trần Thế V1. Sinh năm: 1955; Mẹ: Nguyễn Thị Kỳ B. Sinh năm: 1958; Vợ: Ngô Thị L. Sinh năm: 1981 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Họ và tên: Lê Văn T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/6/1963 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Cha: L (chết); Mẹ: Lê Thị P (chết); Vợ: Nguyễn Thị N (chết); Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/12/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội cố ý gây thương tích. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì muốn Trần Ngọc H, sinh năm 2004, trú tại khu phố T, phường H, thị xã Đ không đi lính nghĩa vụ quân sự, khoảng tháng 01/2024, Nguyễn Thị Kim L1 (mẹ ruột H) đã liên hệ nhờ Lê Văn T tìm người lo giúp cho H. Thoại liên hệ với Trần Thế V là lái xe của Trung tâm y tế thị xã Đ hỏi V có giúp được không thì V nói giúp được với số tiền khoảng 26.000.000 đồng. Để được hưởng lợi, T nói lại với L1 là V nhận giúp lo được cho H không đi lính nghĩa vụ quân sự với số tiền 40.000.000 đồng, L1 đồng ý. Để L1 tin tưởng, T nói với Lê Thị Thanh H1 (bạn gái T) là đang nhờ V giúp cho con của L1 không đi lính nghĩa vụ quân sự, bảo H1 đi cùng T đến gặp L1 và nói là vợ của V để L1 đưa tiền rồi T cho tiền tiêu xài, H1 đồng ý.

Khoảng 09 giờ ngày 22/01/2024, T hẹn gặp L1 tại quán C1 thuộc khu phố P, phường H, thị xã Đ lấy số tiền 25.000.000 đồng, L1 đến gặp T và H1, T giới thiệu H1 là vợ của V, bảo L1 đưa tiền thì L1 đưa H1 25.000.000 đồng rồi ra về. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H1 đến quán N1 tại khu phố P, phường H, thị xã Đ đưa 25.000.000 đồng cho T, T cho H1 3.000.000 đồng. Thoại đến Trung tâm y tế thị xã Đ đưa V 15.000.000 đồng, còn 7.000.000 đồng Thoại lấy tiêu xài.

Khoảng 05 ngày sau, V gọi cho T nói đưa số tiền còn lại thì T gọi cho L1 bảo đưa số tiền còn lại. Khoảng 09 giờ ngày 27/01/2024, L1 đến quán C1 gặp T và H1, L1 đưa H1 15.000.000 đồng rồi ra về, đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H1 đến quán N1 đưa 15.000.000 đồng cho T, T cho H1 2.000.000 đồng. T hẹn gặp V tại quán C1, T đưa V 12.000.000 đồng, còn 1.000.000 đồng Thoại tiếp tục cho H1 tiêu xài.

Sau khi nhận số tiền 27.000.000 đồng V lấy tiêu xài cá nhân, không liên hệ với ai để nhờ giúp lo cho Trần Ngọc H, đến ngày 25/02/2024, sau khi H lên đường nhập ngũ thì V điện thoại cho Võ Thành C - Trợ lý Quân lực Ban Chỉ huy quân sự thị xã Đ hỏi C có lo đi lính dự bị được hay không, C nói không giúp được, sau đó V không liên hệ với ai để giúp cho H không đi lính nghĩa vụ quân sự hay đi lính dự bị, không trả lại tiền.

Sau khi H nhập ngũ, L1 nhiều lần gọi cho T đòi lại tiền thì T gọi cho V bảo trả lại tiền. Khoảng tháng 3/2024, V trả lại cho T 27.000.000 đồng nhưng T không trả lại tiền cho L1 mà tiêu xài cá nhân hết, đến ngày 27/5/2024, L1 đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tố giác hành vi của T.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa đã tuyên bị cáo Trần Thế V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Lê Văn T phạm tội “Môi giới hối lộ”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thế V: 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 365, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T: 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính đến ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Lê Thị Thanh H1, Nguyễn Thị Kim L1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 14/4/2025, bị cáo Trần Thế V kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 21/4/2025, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thế V, Lê Văn T giữ nguyên yêu kháng cáo; khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thế V, Lê Văn T – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Thế V, Lê Văn T tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Tháng 01/2024, tại phường H, thị xã Đ, Nguyễn Thị Kim L1 đã có hành vi đưa cho Lê Văn T số tiền 40.000.000 đồng để nhờ T tìm người lo giúp cho Trần Ngọc H (con của L1) không đi lính nghĩa vụ quân sự. T và Lê Thị Thanh H1 làm trung gian nhận 40.000.000 đồng của L1, sau đó đưa cho Trần Thế V 27.000.000 đồng để V lo giúp cho con của L1, hưởng lợi số tiền 13.000.000 đồng, trong đó T hưởng lợi 7.000.000 đồng, H1 hưởng lợi 6.000.000 đồng. V không có khả năng lo giúp cho Trần Ngọc H không đi lính nghĩa vụ quân sự hay đi lính dự bị nhưng tự nhận mình có khả năng lo được, sau khi nhận được 27.000.000 đồng thì V chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.

Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Trần Thế V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Văn T phạm tội “Môi giới hối lộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 365 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng khung hình phạt.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo: Hành vi phạm tội của Trần Thế V xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân; hành vi phạm tội của Lê Văn T xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần xử lý nghiêm, đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, xem xét nhân thân cũng như nguyên nhân, điều kiện phạm tội và áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, xử phạt bị cáo Trần Thế V 09 (chín) tháng tù, bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trần Thế V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới nên bác kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Đối với bị cáo Lê Văn T nộp tài liệu thể hiện bà Nguyễn Thị Kim L1 bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Xét hoàn cảnh của bị cáo T hiện nay rất khó khăn, vợ mới chết nên HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt; không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo.

[3] Bị cáo Trần Thế V kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Lê Văn T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn T – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thế V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Lê Văn T phạm tội “Môi giới hối lộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thế V: 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 365, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T: 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thế V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - TAND thị xã Đông Hòa (2);
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;
  • - Bị cáo và người bào chữa;
  • - Lưu Tòa hình sự và án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thơ Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội môi giới hối lộ)

  • Số bản án: 61/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội Môi giới hối lộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thế V - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger