Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-PT

Ngày 19 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Mai Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Trâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà:

bà Đỗ Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 109/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Đức H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- tỉnh Ninh Bình.

- Các bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo :

  1. Trần Đức H, sinh ngày 18/9/2008 tại tỉnh Ninh Bình;
    Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P (đã chết) và bà Lê Thị V; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).
  2. Phạm Khánh Đ, sinh ngày 18/3/2008 tại tỉnh Ninh Bình;
    Nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Duy K và bà Nguyễn Thị X; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).
  3. Vũ Chung H1, sinh ngày 26/01/2008 tại tỉnh Ninh Bình;
    Nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Chu Thị V1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).
  4. Phạm Đức M, sinh ngày 08/5/2008 tại tỉnh Ninh Bình;
    Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H2 và bà Trịnh Thị T; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).
  5. Nguyễn Tiến T1, sinh ngày 01/01/2008, tại tỉnh Ninh Bình;
    Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị H4; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).
  6. Nguyễn Công D, sinh ngày 04/7/2006, tại tỉnh Ninh Bình;
    Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Nguyễn Thị M1; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).
  7. Nguyễn Tiến D2, sinh ngày 19/7/2008 tại tỉnh Ninh Bình;
    Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T2; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo theo chỉ định:

  1. Người bào chữa cho các bị cáo Trần Đức H, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2: Bà Trần Thị B - Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (có mặt)
  2. Người bào chữa cho bị cáo Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Nguyễn Tiến T1: Bà Trần Thị N1 - Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (có mặt)
  3. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công D theo yêu cầu: ông Nguyễn Tuấn D3 - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt)

- Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo có kháng cáo:

  1. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Đức H: Bà Lê Thị V, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Đ, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
  2. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Khánh Đ: bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
  3. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Chung H1: Bà Chu Thị V1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T xã N, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
  4. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Đức M: Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
  5. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tiến T1: bà Trần Thị H4, sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
  6. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tiến D2: bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Ngoài ra trong vụ án còn có 7 bị cáo và 05 người đại diện hợp pháp của các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/3/2025, Phạm Tấn M2 có kể cho Bùi Quốc N2 biết về việc M2 bị một nhóm thanh niên không xác định được tên, địa chỉ trên địa bàn huyện Ý đánh. Sau đó, M2 và N2 hẹn nhau có bạn thì rủ đi cùng vào tối ngày 21/3/2025 sẽ đi tìm nhóm thanh niên trên để đánh lại.

Khoảng 20 giờ ngày 21/3/2025, nhóm thanh niên có 10 người (nhóm A) là: Phạm Tấn M2, Bùi Quốc N2, Hoàng Minh N3, Tống Đức Q, Trần Minh Q1, Vũ Trung K1, Trần Minh H5, Phạm Nguyễn Thành D4, Nguyễn Đắc Minh X1, Phan Minh D5 tập trung tại cổng công ty G1, xã Đ. Bùi Quốc N2 về nhà lấy 01 con dao dài khoảng 40cm, rộng 3cm có vỏ bọc màu nâu dấu ở trong người để khi xảy ra đánh nhau thì sử dụng. Sau đó N2 ra và cùng cả nhóm đi tìm nhóm thanh niên huyện Ý để giải quyết mâu thuẫn. Cả nhóm đi 05 xe mô tô: Q1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 18LA-117.59 chở N2; M2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, dán đề can đen, biển số 18LA-112.07 chở D5; N3 điều khiển xe mô tô Wayeindona màu xanh bạc, biển số 18LA-026.59 chở Q; K1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, biển số 18L1-626.55 chở X1; H5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển số 18LA-061.02 chở D4, cả nhóm xuất phát từ cổng công ty G1 đi theo tuyến đường tỉnh lộ 490 (Quốc lộ C) qua cầu Đ đến địa phận huyện Ý, tỉnh Nam Định nhưng không thấy nhóm thanh niên nào nên quay lại về hướng xã N.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, nhóm A đi đến cầu Đ, xã N thì gặp nhóm thanh niên có 05 người (nhóm B) là: Phạm Khánh Đ, Phạm Đức M, Nguyễn Gia H6, Trần Đức H, Vũ Chung H1, tất cả đều thuộc xã N, huyện N (nay là xã N) điều khiển đi trên 02 xe mô tô: Đan điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đen đỏ biển số 18L1-452.66 chở M và Vũ Chung H1; H6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 18L1-340.83 chở Trần Đức H, cũng đang cùng nhau đi tìm nhóm thanh niên không xác định được tên, địa chỉ cụ thể để giải quyết mâu thuẫn.

Lúc này, nhóm B điều khiển xe mô tô vượt lên trước nhóm A và có người quay lại chửi rồi rẽ sang phần đường bên trái đi theo hướng ngược lại. Thấy vậy N2 (nhóm A) hô lên: “Bọn Nghĩa C đấy, đuổi theo” và đưa con dao mang theo cho D5. Cả nhóm A quay lại đuổi theo nhóm B khoảng 50m đến cầu Đ, xã N, còn M (nhóm B) nói với cả nhóm rẽ vào đống gạch gần một nhà đang xây bên đường. Nhóm A dừng ở đầu cầu Đ cách nhóm B khoảng 30 mét thì N2, Q1, D5 (nhóm A) chửi và thách thức nhóm B đánh nhau, đồng thời D5 dơ dao lên để hù doạ. Đức M, H6 và Vũ Chung H1 (nhóm B) cầm gạch để doạ, ném về phía nhóm A nhưng không trúng ai, còn Trần Đức H cầm gạch và gậy gỗ dơ lên về phía nhóm A doạ. Do sợ đánh nhau nên Trần Minh H5 điều khiển xe mô tô chở Phạm Nguyễn Thành D4 (nhóm A) tách khỏi nhóm đi theo hướng khác. Các thành viên còn lại nhóm A điều khiển xe bỏ chạy theo hướng cầu Đ ra đường Quốc lộ 37B về phía xã Đ, nhóm B điều khiển xe mô tô cầm gạch và gậy gỗ đuổi theo nhóm A. Quá trình đuổi nhau, hai nhóm chạy xe với tốc độ cao, dàn hàng ngang, lạng lách trên đường, hô hào, dùng dao, gạch, gậy gỗ thách thức. Nhóm B đuổi theo nhóm A đến gần khu vực chùa L3, xã N nhưng không kịp nên quay lại về khu vực cầu Đ, xã N đứng chờ.

Trần Minh H5 và Phạm Nguyễn Thành D4 sau khi tách khỏi nhóm không tham gia rượt đuổi nhóm B, trên đường đi thì gặp Nguyễn Tiến T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển số 18LA-049.32 chở Nguyễn Công D và Nguyễn Tiến D2. Do H5 và Phạm Nguyễn Thành D4 có quen biết với Nguyễn Công D nên mọi người cùng nhau đi đến khu vực cầu Đ thì gặp nhóm B đang đứng ở đây. Trần Đức H nhận ra Nguyễn Công D là bạn nên kể lại sự việc bị nhóm A đuổi đánh rồi rủ D, D2 và Nguyễn Tiến T1 tham gia cùng. Khi đó, Trần Minh H5 và Phạm Nguyễn Thành D4 biết T1, Công D và D2 là bạn của nhóm B nên đã chủ động điều khiển xe rời đi chỗ khác.

Lúc này, nhóm B gồm 08 người điều khiển 03 xe mô tô, trong đó Trần Đức H vẫn cầm theo đoạn gậy gỗ, còn Nguyễn Gia H6 cầm theo gạch để làm hung khí, cả nhóm đi theo đường Quốc lộ 37B hướng về phía xã Đ để tìm nhóm A đánh nhau. Trên đường đi, Nguyễn Công D gọi điện thoại cho Đặng Tiến H7, sinh ngày 19/3/2004, trú tại thôn Đ, xã N, huyện N (N là xã N) rủ đi đánh nhau thì H7 đồng ý và H7 rủ thêm Vũ Văn T3, sinh ngày 15/5/2003, trú tại thôn Đ, xã N, huyện N (N là xã N) cùng đi hỗ trợ nhóm B đánh nhau, T3 đồng ý rồi đưa chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu bạc xanh đen, biển số 18LA-096.12 cho H7 điều khiển chở T3 đi đến địa điểm nhóm B đã hẹn. Nhóm B đi đến gần khu vực chùa L3 thuộc địa phận xã N thì không thấy nhóm A nên cùng nhau dừng lại. Tại đây cả nhóm dựng xe trái lề đường, sát với giải phân cách giữa, khoảng 05 phút sau cả nhóm thấy 01 xe mô tô AirBlade (không xác định được biển số) do hai nam thanh niên điều khiển đi qua, nghĩ đây là xe của nhóm A nên Nguyễn Gia H6 hô hào đồng thời nhặt đất, dép ném về phía xe này, Trần Đức H cũng cầm gậy để hù doạ. Sau đó cả nhóm điều khiển xe mô tô đuổi theo với tốc độ cao đến gần ngã tư đèn xanh – đỏ thuộc địa phận xóm Đ, xã Đ thì không kịp nên quay lại theo đường Quốc lộ 37B lên cầu Đ rồi về xã N.

Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, nhóm A còn 08 người gồm: M, N2, N3, Q, Q1, K1, X1, D5 di chuyển về cổng Công ty G1 thì dừng lại. Lúc này, N2 nói với cả nhóm: “Đợi tý về lấy vỏ bia” thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, Q1 điều khiển xe mô tô chở N2 đến khu vực gần Trạm y tế xã N cũ, N2 lấy 01 két bia có 12 vỏ chai bia bằng thủy tinh, màu xanh nhãn hiệu Sài Gòn cổ lùn quay lại cùng cả nhóm. Lúc này, nhóm A gồm 08 người đi trên 04 xe mô tô, cụ thể: Q1 chở N2, N3 chở Q, M chở D5 và K1 chở X1 đi theo đường Quốc lộ 37B hướng về phía cầu Đ. Trên đường đi, N2 nói: “Đi tìm bọn nó”, sau đó N2 cầm 03 vỏ chai bia, số vỏ chai bia còn lại N2 chia cho D5 02 chai, Q 03 chai, X1 04 chai và D5 vẫn cầm dao để làm hung khí đi tìm đánh nhóm B. Khoảng 22 giờ cùng ngày nhóm A đi đến ngã tư giao nhau giữa đường Q và đường liên thôn Đ, thuộc địa phận thôn Đ, xã N thì gặp nhóm B. Nhóm A hô hào nhau quay lại đi sau cùng chiều, khi đi đến trước cửa Gara ô tô A1 thuộc địa phận xã N, huyện N (Nay là xã N) thì nhóm A gồm có: Nguyên ném 03 vỏ chai bia, X1 ném 02 vỏ chai bia, Q ném 03 vỏ chai bia, D5 ném 01 vỏ chai bia về phía nhóm B nhưng không trúng ai rồi vượt sang làn đi ngược chiều, bỏ chạy hướng về xã N (Nay là xã N). Đúng lúc này, Đặng Tiến H7 điều khiển xe mô tô chở Vũ Văn T3 đi đến để tham gia cùng nhóm B đánh nhau thì quan sát được sự việc nên vượt lên dẫn đầu nhóm B để đuổi theo nhóm A trên quãng đường dài khoảng 2km. Cả hai nhóm rượt đuổi nhau với tốc độ cao khoảng 80 – 90km/h, lạng lách, hú còi, nháy đèn, vượt ẩu qua các phương tiện đang tham gia giao thông khác gây mất an ninh trật tự. Khi đến ngã tư T thuộc xã N (Nay là xã N), nhóm B không đuổi kịp nên quay lại đường mới dừng ở gần vị trí cầu Đ đợi nhóm A để tiếp tục đánh nhau. Lúc này, Nguyễn Gia H6 cùng Trần Đức H điều khiển xe mô tô đi lấy 01 két bia Hà Nội có khoảng 10 vỏ chai bằng thuỷ tinh để làm hung khí. Nhóm B đợi khoảng 15 – 20 phút nhưng không thấy nhóm A đến nên mọi người giải tán.

Tại bản kết luận số 684/KL-KTHS ngày 23/4/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: 01 dao dài 54 cm, phần lưỡi cong bằng kim loại dài 38cm, bản rộng nhất 4,2cm, gồm 01 cạnh sắc và 01 đầu nhọn, có vỏ lưỡi và phần cán màu nâu là đao, thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C4, không phải vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ. (Bút lục số 876).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 16 mảnh thủy tinh vỡ dạng vỏ chai bia; 01 dao dài 54 cm, phần lưỡi cong bằng kim loại dài 38cm, bản rộng nhất 4,2cm, gồm 01 cạnh sắc và 01 đầu nhọn, có vỏ lưỡi và phần cán màu nâu; 01 gậy gỗ dài khoảng 77cm, bản rộng khoảng 5cm; 09 chiếc xe mô tô gồm: 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển số 18LA-117.59 là tài sản của ông Bùi Quang H8 (bố của Bùi Quốc N2); 01 xe mô tô Wayeindona màu xanh bạc, biển số 18LA-026.59 là tài sản của bà Trần Thị G (do ông Hoàng Văn L – bố đẻ của Hoàng Minh N3 mượn của chị G); 01 xe mô tô Honda Wave màu đỏ, dán đề can đen, biển số 18LA-112.07 là tài sản của Phạm Văn D6 (cậu của Phạm Tấn M2); 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc, biển số 18L1-626.55, là tài sản của bà Đồng Thị H9 (mẹ đẻ của Vũ Trung K1); 01 xe mô tô Honda Wave màu đen, biển số 18LA-061.02 là tài sản của ông Trần Văn H10 (bố đẻ của Trần Minh H5); 01 xe mô tô Honda Lead màu đen đỏ, biển số 18L1-452.66 là tài sản của bà Nguyễn Thị X (mẹ đẻ của Phạm Khánh Đ); 01 xe mô tô Honda Vision màu trắng, biển số 18L1-340.83 là tài sản của ông Nguyễn Văn V2 ( bố đẻ của Nguyễn Gia H6); 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển số 18LA-049.32 là tài sản của anh Nguyễn Thành L1 (anh họ của Nguyễn Tiến T1); 01 xe mô tô AirBlade màu bạc xanh đen, biển số 18LA-096.21 là tài sản của Vũ Văn T3.

Quá trình điều tra các bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Phạm Tấn M2, Bùi Quốc N2, Trần Minh Q1, Tống Đức Q, Nguyễn Đắc Minh X1, Vũ Chung H1, Phạm Khánh Đ, Trần Đức H, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến T1 và Nguyễn Tiến D2;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công D;

Căn cứ khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đặng Tiến H7 và Vũ Văn T3;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố các bị cáo Phạm Tấn M2, Bùi Quốc N2, Trần Minh Q1, Tống Đức Q, Nguyễn Đắc Minh X1, Vũ Chung H1, Phạm Khánh Đ, Trần Đức H, Phạm Đức M, Nguyễn Công D, Nguyễn Tiến T1,Nguyễn Tiến D2, Đặng Tiến H7và Vũ Văn T3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  • - Xử phạt bị cáo Phạm Tấn M2 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Bùi Quốc N2 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Trần Minh Q1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Tống Đức Q 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc Minh X1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Vũ Chung H1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Khánh Đ 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Trần Đức H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Đức M 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D2 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2025.
  • Xử phạt bị cáo Đặng Tiến H7 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án 29/8/2025. (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025).
  • - Xử phạt bị cáo Vũ Văn T3 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án 29/8/2025. (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025 đến ngày 31/3/2025).

Giao bị cáo Đặng Tiến H7 và Vũ Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí; tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo; người đại diện hợp pháp cho các bị cáo; người bào chữa cho các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 9 năm 2025 bị cáo Nguyễn Công D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 09 tháng 9 năm 2025 bị cáo Phạm Khánh Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 09 tháng 09 năm 2025 bà Nguyễn Thị X là người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Khánh Đ có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho hưởng án treo.

Ngày 09 tháng 09 năm 2025 bà Lê Thị V người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Đức H có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho hưởng án treo

Ngày 09 tháng 09 năm 2025 bà Chu Thị V1 người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Chung H1 có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho hưởng án treo

Ngày 09 tháng 09 năm 2025 ông Phạm Văn H2 người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Đức M có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho hưởng án treo

Ngày 09 tháng 09 năm 2025 bà Trần Thị H4 người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tiến T1 có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho hưởng án treo

Ngày 09 tháng 09 năm 2025 bà Nguyễn Thị T2 người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tiến D2 có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho hưởng án treo

Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Công D, Phạm Khánh Đ vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do phạm tội khi tuổi còn trẻ không nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình; người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến T1,Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Trần Đức H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, rút nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Công D, Phạm Khánh Đ và người đại diện hợp của các bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến T1, Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Trần Đức H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình) về phần hình phạt tù đối với các bị cáo.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Vũ Chung H1, Phạm Khánh Đ, Trần Đức H, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến T1 và Nguyễn Tiến D2;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công D;

Xử phạt:

  • - Bị cáo Vũ Chung H1 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Phạm Khánh Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Trần Đức H 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Phạm Đức M 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Nguyễn Tiến T1 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Nguyễn Công D 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Nguyễn Tiến D2 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2025.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức H, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2 có quan điểm trình bày: các bị cáo sinh ra và lớn lên trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đã được chính quyền địa phương xác nhận. Gia đình bị cáo Trần Đức H thuộc diện hộ cận nghèo, bố bị cáo mất sớm; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang. Bị cáo Phạm Đức M có ông nội là thương binh. Bị cáo Nguyễn Tiến D2 có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, bố bị cáo mắc bệnh nan y, thường xuyên phải điều trị. Các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình. Bản thân các bị cáo H, M, D2 từ nhỏ tới trước ngày phạm tội luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu bị cáo phạm tội. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ chính sách khoan hồng của pháp luật áp dụng Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với xã hội, sửa chữa sai lầm và phấn đấu trở thành người công dân có ích.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Nguyễn Tiến T1 có quan điểm trình bày: Bị cáo Vũ C1 Hiếu sinh ra và lớn lên trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương. Gia đình chỉ có hai mẹ con. Mẹ bị cáo H1 sức khỏe yếu nên bị cáo thường xuyên phụ giúp mẹ lao động trang trải cuộc sống. Bị cáo Phạm Khánh Đ khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đ cũng đang là học sinh lớp 11. Trong quá trình học tập, bị cáo Đ luôn là con ngoan, trò giỏi, được tặng thưởng rất nhiều Giấy khen. Ông nội của bị cáo Đ là ông Phạm Quốc C2 có thời gian tham gia quân đội, được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Bị cáo Nguyễn Tiến T1 cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền đại phương. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Khánh Đ và đại diện hợp pháp của các bị cáo Vũ Chung H1, Phạm Khánh Đ, Nguyễn Tiến T1 sửa bản án hình sự sơ thẩm; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119; Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Vũ Chung H1, Phạm Khánh Đ, Nguyễn Tiến T1, tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình, tiếp tục học tập, phát triển, trở thành người công dân có ích cho gia đình, địa phương và xã hội.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công D có quan điểm: Nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo D. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vì bị cáo tham gia vụ án ở giai đoạn 2, với vai trò đồng phạm giản đơn, mức độ chưa gây hậu quả nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công D, cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Trần Đức H, Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến T1, Nguyễn Công D, Nguyễn Tiến D2 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Công D, Phạm Khánh Đ và người đại diện hợp của các bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến T1, Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Trần Đức H làm trong thời hạn luật định, nội dung đơn được thể hiện đầy đủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến T1, Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Trần Đức H xin rút nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ khoản 1 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần kháng cáo của các đại diện hợp pháp của các bị cáo nêu trên.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Đức H, Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến T1, Nguyễn Công D, Nguyễn Tiến D2thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ ngày 21/3/2025, trên trục đường Quốc lộ 37B thuộc địa phận xã N, xã N và các xã lân cận thuộc huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình), nhóm A gồm có: Phạm Tấn M2, Bùi Quốc N2, Trần Minh Q1, Tống Đức Q, Nguyễn Đắc Minh X1; còn nhóm B gồm có: Vũ Chung H1, Phạm Khánh Đ, Trần Đức H, Phạm Đức M, Nguyễn Công D, Nguyễn Tiến T1, Nguyễn Tiến D2 đã xảy ra mâu thuẫn nên giữa hai nhóm đã chửi bới rồi điều khiển xe mô tô rượt đuổi với tốc độ cao, lạng lách, dàn hang ngang, rú ga, bóp còi, hò hét. Trong đó nhóm A sử dụng hung khí là dao và vỏ chai bia, còn nhóm B sử dụng gạch, gậy gỗ để ném, đe doạ, thách thức đánh nhau. Sau đó trong nhóm B có thêm Đặng Tiến H7 và Vũ Văn T3 tham gia cùng, khi đó trong nhóm không ai mang theo hung khí gì mà chỉ rượt đuổi nhau trên đường. Quá trình hai nhóm rượt đuổi nhau gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp cho các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân trên địa bàn, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt các bị cáo Vũ Chung H1 27 tháng tù; Phạm Khánh Đ 27 tháng tù; Trần Đức H 27 tháng tù; Phạm Đức M 27 tháng tù; Nguyễn Tiến T1 21 tháng tù; Nguyễn Công D 24 tháng tù; Nguyễn Tiến D2 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp với quy định của pháp luật, không nặng.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Công D không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Bị cáo Phạm Khánh Đ xuất trình Giấy khen năm học lớp 7 và lớp 9 của bị cáo; kỷ niệm chương cựu chiến binh, giấy xác nhận khuyết tật, Huân chương chiến sĩ vẻ vang của ông Phạm Quốc C2 là ông nội bị cáo. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Đức H xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nội dung thể hiện gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo mất sớm do bị tai nạn giao thông, ông ngoại bị cáo là ông Lê Văn C3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, Huân chương hữu nghị hạng ba, Kỷ niệm chương giúp bạn Lào. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Đức M xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nội dung thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo bị bệnh cao huyết áp, tiểu đường và bệnh xương khớp; mẹ bị cáo đi làm xa nhà; ông nội bị cáo là ông Phạm Xuân K2 là thương binh hạng ¼ đã già yếu. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Trung H11 xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nội dung thể hiện mẹ bị cáo là mẹ đơn thân, thường xuyên ốm đau, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến T1 xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nội dung thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nêu trên nhưng không đủ căn cứ làm thay đổi hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo. Quan điểm bào chữa của Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Vì vậy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của các bị cáo và của đại diện hợp pháp cho các bị cáo không có căn cứ để chấp nhận; cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình về phần hình phạt tù đối với các bị cáo Nguyễn Công D, Phạm Khánh Đ, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến T1, Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Trần Đức H

[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo không được chấp nhận nên phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Công D, Phạm Khánh Đ và người đại diện hợp của các bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến T1, Phạm Khánh Đ, Vũ Chung H1, Trần Đức H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình) về phần hình phạt tù đối với các bị cáo.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Vũ Chung H1, Phạm Khánh Đ, Trần Đức H, Phạm Đức M, Nguyễn Tiến T1 và Nguyễn Tiến D2;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công D;

Xử phạt:

  • - Bị cáo Vũ Chung H1 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Phạm Khánh Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Trần Đức H 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • - Bị cáo Phạm Đức M 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • Bị cáo Nguyễn Tiến T1 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • - Bị cáo Nguyễn Công D 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
  • - Bị cáo Nguyễn Tiến D2 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2025.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Các bị cáo Nguyễn Công D, Phạm Khánh Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Trần Đức Hlà bà Lê Thị V; Vũ Chung H1 là bà Chu Thị V1; Phạm Đức Mlà ông Phạm Văn H2; Nguyễn Tiến T1là bà Trần Thị H4; Nguyễn Tiến D2 là bà Nguyễn Thị T2 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 19/11/2025.

Nơi nhân:

  • - TAND tối cao (01bản);
  • - VKSND tối cao (01 bản);
  • - Phòng TT-KT-THA (01bản);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (03bản);
  • - Phòng HSNV - Công an Ninh Bình (01bản);
  • - TAND khu vực 11 (4 bản);
  • - VKSND khu vực 11 (01bản);
  • - Phòng THADS (01bản);
  • - Trại tạm giam số 3 CA tỉnh (01 bản)
  • - Bị cáo (01bản);
  • - ĐDHP của bị cáo (01 bản)
  • - Lưu hồ sơ, lưu tòa, HCTP (03bản);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Thảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

Mai Anh Tuấn

Bùi Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-PT ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 61/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức H và ĐP- gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger