Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-PT

Ngày 10 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Đoan Trang;

Ông Vũ Văn Mạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 60/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn C và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Văn C, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1976 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Lê Thị M; có vợ là Vũ Thị T và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 07/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
  2. Bùi Thị D, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1979 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang H và bà Nguyễn Thị T1; có chồng là Lê Văn Đ và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 07/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị D không phải là đại lý bán vé xổ số của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên X. Trong quá trình sinh sống tại địa phương, D biết nhiều người có nhu cầu mua số lô, số đề trái phép nên nảy sinh ý định bán số lô, đề để kiếm lời. Sáng ngày 29/8/2024, tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, D gặp Lê Văn C, D nói với C về việc có nhiều người hỏi mua số lô, số đề trái phép nhưng D không có đủ khả năng tài chính để đứng ra mua bán số lô, số đề và trả tiền thắng cho khách. Lúc này, C nhận đứng ra tổ chức mua bán số lô, số đề trái phép còn D làm đại lý bán số lô, số đề trái phép cho khách rồi chuyển lại cho C để hưởng tiền hoa hồng thì D đồng ý. D và C thống nhất về hình thức mua bán số lô, số đề trái phép qua việc nhắn tin SMS, trong đó: D sử dụng số điện thoại 0335.451.xxx của D còn C sử dụng số điện thoại 0389.591.xxx của C. Đồng thời cũng thống nhất cách tính tỷ lệ thắng thua căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, cụ thể như sau:

  • + Số lô là số tự nhiên bất kỳ có 02 chữ số trong dãy số từ 00 đến 99 do khách chọn. Tỷ lệ số lô được tính bằng điểm, mỗi một điểm lô D bán cho khách với giá 22.000đ rồi chuyển lại cho C với giá 21.700 đồng (D được hưởng 300 đồng/01 điểm lô bán được cho khách). Nếu số lô khách mua mà trùng với 02 số cuối của bất kỳ một giải thưởng nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì khách sẽ thắng và được C trả tiền theo tỷ lệ cứ 01 điểm lô thì được 80.000 đồng. Trường hợp số lô khách mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thưởng thì số tiền khách được hưởng tương ứng cứ nhân lên theo số lần trùng lặp như vậy nhưng không được hưởng quá 03 lần. Ngược lại, nếu khách thua (tức là số lô khách mua không trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào) thì C sẽ được hưởng số tiền mà khách dùng để mua số lô đó (sau khi trừ số tiền hoa hồng mà D được hưởng).
  • + Số lô xiên ba là bộ số gồm 03 số lô khác nhau do khách chọn. Khi khách mua số lô xiên ba thì D khuyến mại cho khách 20% nên khách chỉ phải trả cho D 80% số tiền khách mua số lô đó. Sau đó, D chuyển lại số lô này cho C thì được C khuyến mại 40% nên D chỉ phải trả cho C 60% số tiền khách mua số lô nêu trên (D được hưởng 20% tiền hoa hồng). Nếu tất cả các số lô trong bộ số lô xiên ba khách mua mà đều trùng với 02 số cuối của bất kỳ một giải thưởng nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì khách sẽ thắng và C phải trả số tiền gấp 40 lần lượng tiền khách mua số lô đó. Ngược lại, nếu khách thua (tức là có ít nhất 01 số lô trong bộ số lô xiên ba khách mua không trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào) thì C sẽ được hưởng số tiền mà khách dùng để mua số lô xiên đó (sau khi trừ số tiền hoa hồng mà D được hưởng).
  • + Số đề loại 02 số là số tự nhiên bất kỳ có 02 chữ số trong dãy số từ 00 đến 99 do khách chọn. Khi khách mua các số đề loại 02 số thì D khuyến mại cho khách 20% nên khách chỉ phải trả cho D 80% số tiền khách mua các số đề đó. Sau đó, D chuyển lại các số đề này cho C thì được C khuyến mại 28% nên D chỉ phải trả cho C 72% số tiền khách mua các số đề nêu trên (D được hưởng 8% tiền hoa hồng). Nếu số đề khách mua mà trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt thì khách sẽ thắng và C phải trả số tiền gấp 70 lần lượng tiền khách dùng để mua số đề đó. Ngược lại, nếu khách thua (tức là số đề khách mua không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt) thì C sẽ được hưởng số tiền khách dùng để mua số đề đó (sau khi trừ số tiền hoa hồng mà D được hưởng).
  • + Số đề loại 03 số (ba càng) là số tự nhiên bất kỳ có 03 chữ số trong dãy số từ 000 đến 999 do khách chọn. Khi khách mua các số đề loại 03 số thì D khuyến mại cho khách 20% nên khách chỉ phải trả cho D 80% số tiền khách mua các số đề đó. Sau đó, D chuyển lại các số đề này cho C thì được C khuyến mại 28% nên D chỉ phải trả cho C 72% số tiền khách mua các số đề nêu trên (D được hưởng 8% tiền hoa hồng). Nếu số đề khách mua mà trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì khách sẽ thắng và C phải trả số tiền gấp 400 lần lượng tiền khách dùng để mua số đề đó. Ngược lại, nếu khách thua (tức là số đề khách mua không trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt) thì C sẽ được hưởng số tiền khách dùng để mua số đề đó (sau khi trừ số tiền hoa hồng mà D được hưởng).

Trong ngày 29/8/2024, Bùi Thị D đã bán các số lô, số đề cho 09 người chơi, cụ thể:

Người thứ nhất: Do Bùi Thế T2, sinh năm 1990, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện V, nhờ mua các số lô nên khoảng 15 giờ 37 phút ngày 29/8/2024, Lê Thu H1 sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện V, biết Bùi Thị D bán số đề nên đã sử dụng số điện thoại 0588.822.xxx nhắn đến số điện thoại 0353.426.xxx của D với nội dung: “L23 50₫ L32 50đ” có nghĩa là H1 hỏi mua của D các số lô 23, 32 mỗi số với lượng 50 điểm. D nhắn tin lại với nội dung “Ok” tức là D đồng ý bán cho H1 các số lô với lượng điểm tương ứng như nêu trên. Tiếp đó đến khoảng 17 giờ 54 phút, H1 tiếp tục nhắn tin “L25 100d” để mua số lô 25 với lượng 100 điểm, D đồng ý và nhắn tin lại “Ok” tức là D đồng ý bán cho H1 số lô với lượng điểm tương ứng như trên. Tổng số điểm lô H1 mua của D là 200 điểm tương ứng với số tiền 4.400.000đ. Thời điểm bị cơ quan Công an phát hiện H1 chưa trả tiền thanh toán cho D.

Người thứ hai: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, số đề gồm: Các số lô: 68, 86, 55, 73 mỗi số với lượng 50 điểm; Các số đề loại 02 số: 45, 54, 79 mỗi số với lượng 150.000đ. Số đề loại 03 số (ba càng) là 789 với lượng 100.000đ. Tổng số điểm lô D đã bán cho khách là 200 điểm, tương ứng với số tiền 4.400.000đ. Số tiền D bán các số đề loại 02 số cho khách là 450.000đ nhưng D khuyến mại cho khách 20% tương ứng với số tiền 90.000đ nên khách chỉ phải trả cho D số tiền 360.000đ. Số tiền D bán số đề loại 03 số (ba càng) cho khách là 100.000đ nhưng D khuyến mại cho khách 20% tương ứng với số tiền 20.000đ nên khách chỉ phải trả cho D số tiền 80.000đ.

Như vậy tổng số tiền D bán số lô, số đề trái phép cho người khách này là 4.950.000đ, D khuyến mại cho khách số tiền 110.000đ nên khách đã trả cho D số tiền 4.840.000đ.

Người thứ ba: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, số đề gồm: Các số lô: 05, 50 mỗi số với lượng 50 điểm; 01, 04, 40 mỗi số với lượng 25 điểm. Số lô xiên ba gồm 59-95-48 với lượng 200.000đ. Các số đề loại 02 số: 49, 88, 72, 85, 04 mỗi số với lượng 150.000đ. Tổng số điểm lô D bán cho khách là 175 điểm tương ứng với số tiền 3.850.000đ. Tổng số tiền D bán số lô xiên ba cho khách là 200.000đ nhưng D khuyến mại cho khách 20% tương ứng với số tiền 40.000đ nên khách đã trả cho D số tiền 160.000đ. Tổng số tiền D bán các số đề loại 02 số cho khách là 750.000đ nhưng D khuyến mại cho khách 20% tương ứng với số tiền 150.000đ nên khách đã trả cho D số tiền 600.000đ.

Như vậy tổng số tiền D bán số lô, số đề trái phép cho người khách này là 4.800.000đ, D khuyến mại cho khách số tiền 190.000đ nên khách đã trả cho D 4.610.000đ.

Người thứ tư: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, số đề gồm: Các số lô: 77, 78, 12, 22, 24, 42, 14, 41 mỗi số với lượng 25 điểm. Tổng số điểm lô D bán cho khách là 200 điểm tương ứng với số tiền 4.400.000đ. Các số đề loại 02 số: 46, 64, 14, 41, 11, 49, 94, 39, 93 mỗi số với lượng 50.000đ. Tổng số tiền D bán các số đề loại 02 số cho khách là 450.000đ nhưng D khuyến mại cho khách 20% tương ứng với số tiền 90.000đ nên khách đã trả cho D số tiền 360.000đ.

Tổng số tiền D bán số lô, số đề trái phép cho người khách này là 4.850.000đ nhưng D khuyến mại cho khách số tiền 90.000đ nên khách đã trả cho D số tiền 4.760.000đ.Người thứ năm: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, gồm: các số lô 15, 51, 25, 52, 54, 45, 55, 44, 33 mỗi số với lượng 25 điểm. Tổng số điểm lô D bán cho người khách này là 225 điểm tương ứng với số tiền 4.950.000đ.

Người thứ sáu: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, gồm: các số lô 48, 49, 94, 50, 38, 83, 62, 28, 82 mỗi số với lượng 25 điểm. Tổng số điểm lô D bán cho người khách này là 225 điểm tương ứng với số tiền 4.950.000đ.

Người thứ bảy: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, số đề, gồm: Các số lô: 29, 92 mỗi số với lượng 25 điểm; 25 với lượng 30 điểm; 55, 24, 42, 14, 41, 04 40 mỗi số với lượng 15 điểm. Tổng số điểm lô D bán cho khách là 185 điểm tương ứng với số tiền 4.070.000đ.

Các số đề loại 02 số: 17, 71, 89, 98, 78, 87, 05, 50 mỗi số với lượng 50.000đ. Tổng số tiền D bán các số đề loại 02 số cho khách là 400.000đ nhưng D khuyến mại cho khách 20% tương ứng với số tiền 80.000đ nên khách đã trả cho D số tiền 320.000đ. Tổng số tiền D bán số lô, số đề trái phép cho người khách này là 4.470.000đ nhưng D khuyến mại cho khách số tiền 80.000đ nên khách đã trả cho D số tiền 4.390.000đ.

Người thứ tám: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, gồm: các số lô 05, 50, 59, 95, 57, 75, 38, 83, 18, 81, 01, 10, 11, 25, 52 mỗi số với lượng 15 điểm. Tổng số điểm lô D bán cho người khách này là 225 điểm tương ứng với số tiền 4.950.000đ.

Người thứ chín: D bán cho người đàn ông không quen biết các số lô, gồm: các số lô 15, 51, 68, 86, 69, 96, 19, 97, 49, 94, 33, 77, 37, 73 mỗi số với lượng 15 điểm. Tổng số điểm lô D bán cho người khách này là 210 điểm tương ứng với số tiền 4.620.000đ.

Sau khi bán số lô, số đề trái phép cho 09 người khách như trên thì D ghi tổng hợp vào 01 tờ giấy để theo dõi và nhắn tin SMS chuyển cho C toàn bộ các số lô, số đề này. Cụ thể như sau:

Tin nhắn 1: Hồi 17 giờ 52 phút, D nhắn cho C với nội dung “Lô 23 32 68 86 55 73 05 50x50d 01 04 40 77 78 12 22 24 42 14 41 15 51 25 52 54 45 55 44 33 48 49 94 50 38 83 62 28 82 29 92x25d xiên 59 95 48x200n đê 45 54 79 49 88 72 85 01x150n 46 64 14 41 11 49 94 39 93 17 71 89 98 78 87 05 50x50n 3c 789x100n” chuyển cho C các số lô, số đề gồm:

  • + Các số lô: 23, 32, 68, 86, 55, 73, 05, 50 mỗi số với lượng 50 điểm; 01, 04, 40, 77, 78, 12, 22, 24, 42, 14, 41, 15, 51, 25, 52, 54, 45, 55, 44, 33, 48, 49, 94, 50, 38, 83, 62, 28, 82, 29, 92 mỗi số với lượng 25 điểm.
  • + Số lô xiên ba là 59-95-48 với lượng 200.000đ.
  • + Các số đề loại 02 số: 45, 54, 79, 49, 88, 72, 85, 01 mỗi số với lượng 150.000đ; 46, 64, 14, 41, 11, 49, 94, 39, 93, 17, 71, 89, 98, 78, 87, 05, 50 mỗi số với lượng 50.000đ.
  • + Số đề loại 03 số (ba càng) là 789 với lượng 100.000đ.

Tin nhắn 2: Hồi 17 giờ 58 phút, D nhắn cho C với nội dung “Lô 25x130d 55 24 42 14 41 04 40 05 50 59 95 57 75 38 83 18 81 01 10 11 25 52 15 51 68 86 69 96 79 97 49 94 33 77 37 73x15d”, chuyển cho C các số lô gồm: số 25 với lượng 130 điểm; các số 55, 24, 42, 14, 41, 04, 40, 05, 50, 59, 95, 57, 75, 38, 83, 18, 81, 01, 10, 11, 25, 52, 15, 51, 68, 86, 69, 96, 79, 97, 49, 94, 33, 77, 37, 73 mỗi số với lượng 15 điểm.

Sau khi nhận tin nhắn của D, C nhắn tin lại cho D với nội dung “2 t” tức là C đồng ý nhận 01 tin nhắn của D với các số lô, số đề và lượng điểm, lượng tiền tương ứng như trong 02 tin nhắn nêu trên.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 29/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành triệu tập làm việc với Lê Văn C và Bùi Thị D thì cả C và D đều thừa nhận có hành vi Tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép. Do thời điểm sự việc bị phát hiện hành vi phạm tội của C và D trước khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 29/08/2024 nên C và D chưa tính tiền thắng thua với những người chơi. Như vậy, tổng số tiền Lê Văn C và Bùi Thị D đã tổ chức đánh bạc trong ngày 29/8/2024, cho 09 người chơi được xác định là 42.940.000 đồng đồng. D khuyến mại cho khách số tiền 470.000 đồng nên khách đã trả cho D số tiền 38.070.000 đồng (số tiền đánh bạc của H1 4.400.000 đồng chưa chuyển cho D). Khi chuyển các số lô, số đề này cùng số tiền cho C thì D được hưởng 765.500 đồng tiền hoa hồng, do bị bắt nên D chưa chuyển số tiền khách đánh bạc còn lại cho C.

* Vật chứng thu giữ:

  • + Ngày 29/8/2024, C giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 8, màu đen, số IMEI 1: 353759098370053, số IMEI 2: 353760098370051, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000313533725 (sim điện thoại trên mang số thuê bao 0389.591.692).
  • + D đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 điện thoại di động, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A15, màu đen, số IMEI 1: 357301900615148, số IMEI 2: 357371920615147, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0335.451.350 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu xanh, số IMEI 1: 352353112148611, số IMEI 2: 352354112148619, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0353.462.892; 01 chiếc bút bi nhãn hiệu Matixs, mực màu xanh; 01 tờ giấy của D ghi các số lô, số đề bán cho người chơi, số tiền 38.070.000đ (là tiền bán số lô, số đề cho người chơi đã trả cho D).
  • + Ngày 29/8/2024, Lê Thu H1 giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max, màu xám ghi, số IMEI 1: 356103505822769, số IMEI 2: 356103505079279. Bùi Thế T2 giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12 ProMax, màu vàng, số IMEI 1: 359015633525055, số IMEI 2: 359015633695205.
  • Ngày 26/11/2024, Bùi Thế T2 giao nộp số tiền 4.400.000đ là tiền T2 sử dụng để nhờ H1 mua số lô trái phép của D vào ngày 29/8/2024.
  • Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn C và nơi ở của Bùi Thị D, kết quả không thu giữ, vật chứng, tài sản, đồ vật gì.

* Kết quả trưng cầu giám định các điện thoại thu giữ:

Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1815, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu xanh nắp sim điện thoại trên mang số thuê bao 0353.426.892 của Bùi Thị D với yêu cầu giám định: Khôi phục, trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn zalo, tin nhắn telegram của tài khoản đăng nhập trên mẫu gửi giám định.

Ngày 16/10/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã có Bản kết luận giám định số: 2965/KL - KTHS, theo đó kết luận:

  • + Chụp được 02 ảnh màn hình điện thoại thể hiện dữ liệu tin nhắn SMS; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn các ứng dụng zalo, messenger, telegram.
  • + Toàn bộ dữ liệu nêu trên được in thành văn bản.
  • + Kèm theo Kết luận giám định có: 01 Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của Phòng K- Công an tỉnh V.
  • + H2 lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc tại Phòng K - Công an tỉnh V.

Kết quả kết luận giám định trên xác định: Có 04 tin nhắn SMS giữa số điện thoại 0353.426.xxx của Bùi Thị D trên điện thoại gửi giám định với số điện thoại 0588.822.xxx của Lê Thu H1 trong ngày 29/8/2024, là các tin nhắn trao đổi mua bán số lô, số đề giữa D và H1 phù hợp với lời khai nhận của D và H1.

Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1819, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A15, màu đen, bên trong lắp 01 thẻ sim điện số thuê bao 0335.451.350 của Bùi Thị D với yêu cầu giám định: Khôi phục, trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn zalo, tin nhắn telegram của tài khoản đăng nhập trên mẫu gửi giám định.

Ngày 16/10/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã có Bản kết luận giám định số 2969/KL- KTHS, theo đó kết luận:

  • + Chụp được 02 ảnh màn hình điện thoại thể hiện dữ liệu tin nhắn SMS; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn các ứng dụng zalo, messenger, telegram.
  • + Toàn bộ dữ liệu nêu trên được in thành văn bản.
  • + Kèm theo Kết luận giám định có: 01 Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của Phòng K- Công an tỉnh V.
  • + H2 lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V - tỉnh Vĩnh Phúc tại Phòng K - Công an tỉnh V.

Kết quả Kết luận giám định trên xác định: Có 03 tin nhắn SMS giữa số điện thoại 0335.451.xxx của Bùi Thị D trên điện thoại gửi giám định với số điện thoại 0389.591.xxx của Lê Văn C trong ngày 29/8/2024, là nội dung chuyển các số lô, số đề giữa D và C.

Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1818, trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 8, màu đen, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại số thuê bao 0389.591.xxx của Lê Văn C với yêu cầu giám định: Khôi phục, trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn Z, tin nhắn telegram của tài khoản đăng nhập trên mẫu gửi giám định.

Ngày 16/10/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã có Bản kết luận giám định số: 2968/KL- KTHS, theo đó kết luận:

  • + Chụp được 02 ảnh màn hình điện thoại thể hiện dữ liệu tin nhắn SMS; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn các ứng dụng zalo, messenger, telegram.
  • + Toàn bộ dữ liệu nêu trên được in thành văn bản.
  • + Kèm theo Kết luận giám định có: 01 Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của Phòng K- Công an tỉnh V.
  • + H2 lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan Cảnh sát đuiều tra Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc tại Phòng K - Công an tỉnh V.

Kết quả kết luận giám định trên xác định: Có 03 tin nhắn SMS giữa số điện thoại 0389.591.xxx của Lê Văn C trên điện thoại gửi giám định với số điện thoại 0335.451.xxx của Bùi Thị D trong ngày 29/8/2024, là nội dung chuyển các số lô, số đề giữa C và D.

Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1817, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max, màu xám ghi, bên trong có lắp 01 thẻ sim điện thoại số thuê bao 0588.822.xxx của Lê Thu H1 với yêu cầu giám định: Khôi phục, trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn zalo, tin nhắn telegram của tài khoản đăng nhập trên mẫu gửi giám định.

Ngày 16/10/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã có Bản kết luận giám định số: 2967/KL - KTHS, theo đó kết luận:

  • + Chụp được 05 ảnh màn hình điện thoại thể hiện dữ liệu tin nhắn SMS và tin nhắn ứng dụng messenger; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn các ứng dụng zalo, telegram.
  • + Toàn bộ dữ liệu nêu trên được in thành văn bản.
  • + Kèm theo Kết luận giám định có: 01 Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của Phòng K- Công an tỉnh V.
  • + H2 lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc tại Phòng K- Công an tỉnh V.

Kết quả kết luận giám định trên xác định:

  • + Có 01 cuộc gọi thoại và 04 tin nhắn messenger giữa tài khoản có tên là “Lê Lan H3” của Lê Thu H1 đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với tài khoản có tên là “Tuê Bùi” của Bùi Thế T2 trong ngày 29/8/2024.
  • + Có 04 tin nhắn SMS giữa số điện thoại 0588.822.xxx của Lê Thu H1 trên điện thoại gửi giám định với số điện thoại 0353.426.xxx của Bùi Thị D trong ngày 29/8/2024, là nội dung trao đổi các số lô giữa H1 và D, T2.

Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1816, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V, giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại IPhone 12 Pro Max, màu vàng, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại số thuê bao 0868.535.xxx của Bùi Thế T2 với yêu cầu giám định: Khôi phục, trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn zalo, tin nhắn telegram của tài khoản đăng nhập trên mẫu gửi giám định.

Ngày 16/10/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã có Bản kết luận giám định số: 2966/KL - KTHS, theo đó kết luận:

  • + Chụp được 02 ảnh màn hình điện thoại thể hiện dữ liệu tin nhắn ứng dụng messenger; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS và tin nhắn các ứng dụng zalo, telegram.
  • + Toàn bộ dữ liệu nêu trên được in thành văn bản.
  • + Kèm theo Kết luận giám định có: 01 Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của Phòng K- Công an tỉnh V.
  • + H2 lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc tại Phòng K- Công an tỉnh V.

Kết quả kết luận giám định trên xác định: Có 01 cuộc gọi thoại và 04 tin nhắn messenger giữa tài khoản có tên là “Tuê Bùi” của Bùi Thế T2 đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với tài khoản có tên là “Lê Lan H3” của Lê Thu H1 trong ngày 29/8/2024, là nội dung Tuệ nhờ H1 mua các số lô.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thông báo nội dung các Kết luận giám định nêu trên cho Lê Thu H1, Bùi Thế T2 và các bị cáo Lê Văn C, Bùi Thị D theo quy định pháp luật. Sau khi được thông báo thì cả 04 người đều nhất trí với nội dung các Kết luận giám định, không ai có ý kiến thắc mắc gì.

Các kết giám định nêu trên đều phù hợp với lời khai của các bị can, lời khai của những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra.

Ngày 09/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Yêu cầu số 3956, yêu cầu Công ty Cổ phần V cung cấp thông tin về chủ thuê bao của số thuê bao 0588.822.288 thu giữ của Lê Thu H1. Ngày 17/10/2024, Công ty Cổ phần V đã có tài liệu phúc đáp. Theo đó xác định chủ thuê bao số 0588.822.288 là Lê Thu H1 sinh ngày 17/10/1999, địa chỉ tổ dân phố T, thị trấn T, huyện V.

Ngày 09/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Yêu cầu số 3957, yêu cầu Cục B và Tập đoàn C1 (V1) cung cấp thông tin về chủ thuê bao của các số thuê bao 0389.591.692 thu giữ của Lê Văn C, 0335.451.350 thu giữ của Bùi Thị D và 0868.535.268 thu giữ của Bùi Thế T2.

Ngày 17/10/2024, Tập đoàn C1 - Viettel Vĩnh P đã có tài liệu phúc đáp. Theo đó xác định:

  • + Chủ thuê bao số 0389.591.692 là anh Lê Trọng L sinh năm 1988, trú tại thị trấn T, huyện V là em trai ruột của bị cáo C (Anh L và C đều khai nhận do C bị mất căn cước công dân nên C đã nhờ anh L đứng tên đăng ký sim điện thoại trên, sau khi đăng ký xong thì C là người sử dụng sim điện thoại di động đó) .
  • + Chủ thuê bao số 0335.451.350 là bà Trịnh Thị T3, sinh năm 1969, trú tại xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương (D khai nhận đây là sim điện thoại rác D sử dụng để mua bán số lô, số đề trái phép; qua làm việc thì bà T3 cũng khai nhận bản thân không quen biết D, không đăng ký và sử dụng sim điện thoại di động này).
  • + Chủ thuê bao số 0868.535.268 là Bùi Thế T2 sinh năm 1990, trú tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Ngày 22/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Yêu cầu số 1875, yêu cầu Cục B và Tập đoàn C1 (V1) cung cấp thông tin về chủ thuê bao của số thuê bao 0353.426.892 thu giữ của Bùi Thị D.

Ngày 12/11/2024, V1 đã có tài liệu phúc đáp. Theo đó xác định: chủ thuê bao số 0353.426.892 là Bùi Thị D sinh ngày 12/7/1979, địa chỉ thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng vào khoản điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s, khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 07/9/2024.

Áp vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị D 01 (Một) năm 08 (T4) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 07/9/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/3/2025 bị cáo Lê Văn C kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo; bị cáo Bùi Thị D kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn C giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị cáo Bùi Thị D thay đổi nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng cho các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D làm trong thời hạn luật định được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Bùi Thị D thay đổi nội dung kháng cáo xin hưởng án treo. Yêu cầu thay đổi kháng cáo của bị cáo là hợp pháp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Lê Văn C chỉ thành khẩn khai báo, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố và Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nên trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo C và D tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với vật chứng của vụ án; phù hợp các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

Sáng ngày 29/8/2024, tại tổ dân phố L, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Văn C và Bùi Thị D bàn bạc, thống nhất tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề và căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày để xác định thắng thua. C là người đứng ra tổ chức mua bán số lô, số đề trái phép, là chủ cái chịu trách nhiệm trả tiền thắng thua cho người chơi, còn D làm đại lý trực tiếp bán số lô, số đề trái phép cho khách rồi chuyển cho C để hưởng tiền hoa hồng.

Chiều ngày 29/8/2024, Bùi Thị D đã bán các số lô, số đề cho Lê Thu H1 và 08 người không quen biết. Sau đó, D ghi tổng hợp các số lô, số đề vào 01 tờ giấy và nhắn tin chuyển cho C, cụ thể: Tổng số điểm lô D đã bán cho khách là 1.845 điểm tương ứng với số tiền là 40.590.000 đồng; bán số lô xiên ba (59-95-48) cho khách tổng số tiền là 200.000 đồng; bán các số đề loại 02 số cho khách tổng số tiền là 2.050.000 đồng; bán số đề loại 03 số (G) cho khách tổng số tiền là 100.000 đồng. Tổng số tiền D đã bán các số lô, số đề trái phép cho khách trong ngày 29/8/2024 là 42.940.000 đồng nhưng D khuyến mại cho khách số tiền 470.000 đồng nên khách chỉ phải trả cho D số tiền 42.470.000 đồng.

Khi chuyển các số lô, số đề này cho C thì D được hưởng 765.500 đồng tiền hoa hồng nên D chỉ phải trả cho C số tiền 41.704.500 đồng. Sau khi bán số lô, số đề cho 09 người chơi, D nhắn toàn bộ số điểm lô, đề trên cho Lê Văn C. Do hành vi mua bán số lô, số đề trái phép của C và D bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày nên tổng số tiền đánh bạc của C và D được xác định là 42.940.000 đồng.

[4] Về tội danh: Với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[5] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Lê Văn C đã thành khẩn khai báo về hành vi bán số lô, số đề nhưng không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với bị cáo Bùi Thị D và thành khẩn khai báo đối với bị cáo Lê Văn C; áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C đó là bị cáo có bố là người có công với nước; các bị cáo D và C có nghĩa cử cao đẹp đóng góp vật chất ủng hộ đồng bào do bị ảnh hưởng cơn bão Yagi là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo C mức hình phạt 02 năm tù, bị cáo D 01 năm 08 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như vai trò phạm tội của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm cả hai bị cáo đều xuất trình tài liệu thể hiện đã nộp xong tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Trước khi phạm tội các bị cáo C và D đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; các bị cáo đã khắc phục xong tiền phạt và án phí nên đáng được khoan hồng. Thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là nhất thời do thiếu hiểu biết pháp luật, có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và các bị cáo đều có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn trên địa bàn và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để răn đe, phòng ngừa cũng như tạo điều kiện giúp các bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và tiếp tục làm việc để chăm lo cho gia đình là phù hợp.

[6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo; sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về biện pháp chấp hành hình phạt.

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị D 01 (Một) năm 08 (T4) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Các bị cáo Lê Văn C và Bùi Thị D mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - TAND huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Cơ quan THAHS có thẩm quyền;
  • Phòng Hồ sơ – CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: HS, Văn phòng, Toà HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thanh Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức đánh bạc

  • Số bản án: 61/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C và đồng phạm, phạm tội "Tổ chức đánh bạc" theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger