trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 3 - 2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Trần Huy.

Ông Nguyễn Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Hồng M, sinh năm 1982 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Võ Văn C, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 11/12/2024, cùng các văn bản kèm theo bà Lê Hồng M trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2002, bà và ông Võ Văn C thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau ngày 14/01/2008. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau, thường xuyên cự cãi và ông Võ Văn C có hành vi đánh đập bà. Sự việc mâu thuẫn được gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Hiện nay bà không còn tình cảm dành cho ông Võ Văn C và không thể tiếp tục sống cùng ông Võ Văn C. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn ông Võ Văn C.

Về con chung có 03 người tên là Võ Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 20/02/2003; Võ Minh Q (giới tính nam), sinh ngày 13/9/2006 và Võ Thị Hồng G, (giới tính nữ), sinh ngày 11/4/2011. Hiện Võ Hoàng L và Võ Minh Q đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Hiện con chung Võ Thị Hồng G đang do ông Võ Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu giao Võ Thị Hồng G cho ông Võ Văn C tiếp tục nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, bà Lê Hồng M xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.

Tại biên bản hòa giải ngày 06/3/2025, ông Võ Văn C trình bày:

Về thời gian xác lập quan hệ vợ chồng, việc có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như thời gian không còn sống chung với nhau như vợ chồng đúng như bà Lê Hồng M đã khai. Về mâu thuẫn thì vợ chồng có cự cãi, bất đồng quan điểm sống và ông thừa nhận có đánh bà M vài bạt tay trong lúc nóng nảy thời gian trước đó. Ông thừa nhận 10/2024 ông chỉ dùng cây sắt nhá vào đầu bà M, đấm vào be sườn của bà M còn việc bà M ngất xỉu là không có. Nguyên nhân ông đánh bà M là do bà M không thật thà trong mối quan hệ bạn bè nên ông có hành vi đánh bà M. Nay bà Lê Hồng M yêu cầu ly hôn với ông, ông không đồng ý ly hôn bà Lê Hồng M. Vì hiện ông còn tình cảm với bà M, ông muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình với bà M.

Về con chung có 03 người tên là Võ Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 20/02/2003; Võ Minh Q (giới tính nam), sinh ngày 13/9/2006 và Võ Thị Hồng G, (giới tính nữ), sinh ngày 11/4/2011. Hiện Võ Hoàng L và Võ Minh Q đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Hiện con chung Võ Thị Hồng G đang do ông trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Hồng M yêu cầu giao Võ Thị Hồng G cho ông tiếp tục nuôi dưỡng. Ông đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng Võ Thị Hồng G, ông không yêu cầu bà Lê Hồng M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, cụ thể về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Lê Hồng M ly hôn với ông Võ Văn C; Về con chung: Có 03 người tên là Võ Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 20/02/2003; Võ Minh Q (giới tính nam), sinh ngày 13/9/2006 và Võ Thị Hồng G, (giới tính nữ), sinh ngày 11/4/2011. Hiện Võ Hoàng L và Võ Minh Q đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Hiện con chung Võ Thị Hồng G đang do ông Võ Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Hồng M yêu cầu giao Võ Thị Hồng G cho ông Võ Văn C tiếp tục nuôi dưỡng, ông Võ Văn C đồng ý nên chấp nhận yêu cầu của bà Lê Hồng M là phù hợp. Ông Võ Văn C không yêu cầu bà Lê Hồng M cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Lê Hồng M xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

Ông Võ Văn C đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai, nhưng ông Võ Văn C vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Năm 2002, bà Lê Hồng M và ông Võ Văn C chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi, ngoài ra ông Võ Văn C thừa nhận có tát bà Lê Hồng M, cả hai không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2024 cho đến nay mà không hàn gắn được. Bà Lê Hồng M xác định không còn tình cảm dành cho ông Võ Văn C và bà Lê Hồng M cương quyết ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Lê Hồng M và ông Võ Văn C không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Lê Hồng M và ông Võ Văn C đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Đối với yêu cầu của bà Lê Hồng M, ông Võ Văn C không thống nhất ly hôn. Tuy nhiên, cả hai đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng thời gian dài nhưng không thể hàn gắn đoàn tụ gia đình. Xét cho bà Lê Hồng M ly hôn với ông Võ Văn C là có cơ sở.

[3] Về con chung: Có 03 người tên là Võ Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 20/02/2003; Võ Minh Q (giới tính nam), sinh ngày 13/9/2006 và Võ Thị Hồng G, (giới tính nữ), sinh ngày 11/4/2011. Hiện Võ Hoàng L và Võ Minh Q đã thành niên, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Riêng người con chung Võ Thị Hồng G đang do ông Võ Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Hồng M yêu cầu giao Võ Thị Hồng G cho ông Võ Văn C tiếp tục nuôi dưỡng, ông Võ Văn C đồng ý nhận nuôi dưỡng cháu Võ Thị Hồng G. Mặc khác cháu Lê Thị Hồng G1 có nguyện vọng sống cùng với ông Võ Văn C nên chấp nhận yêu cầu của bà Lê Hồng M là phù hợp. Ông Võ Văn C không yêu cầu bà Lê Hồng M cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Hồng M phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Hồng M ly hôn với ông Võ Văn C.
  2. Về con chung: Giao Võ Thị Hồng G, (giới tính nữ), sinh ngày 11/4/2011 cho ông Võ Văn C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Văn C về việc không yêu cầu bà Lê Hồng M cấp dưỡng nuôi con.

    Bà Lê Hồng M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

  3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Hồng M phải chịu 300.000 đồng. Bà Lê Hồng M đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003796 ngày 07/02/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS (khi có hiệu lực);
  • - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau);
  • - UBND xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Ngọc Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn

  • Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Hồng M yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger