TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khởi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dương
- Ông Nguyễn Thế Tự
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 801/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXX - ST ngày 10 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé C, sinh năm 2006; địa chỉ: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Chí T (Có tên gọi khác là T1), sinh năm 1998; địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 12/12/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn Nguyễn Thị Bé C trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn Nguyễn Chí T tự nguyện kết hôn và tổ chức lễ cưới vào năm 2023, không đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, nên quan điểm trái ngược nhau. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm vợ chồng ngày một phai nhạt, nên hôn nhân không còn hạnh phúc, do đó vợ chồng sống ly thân từ tháng 07/2024 đến nay.
Nguyên đơn yêu cầu xin ly hôn với bị đơn, xin được nuôi con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung là Nguyễn Thanh Tuấn A; giới tính nam; sinh ngày 15 tháng 01 năm 2024. Về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn Nguyễn Chí T trình bày: Bị đơn và nguyên đơn tự nguyện đi kết hôn, có tổ chức lễ cưới vào tháng 06 năm 2023, không đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, nên hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng nhiều lần tìm cách khắc phục, hạn chế những bất đồng nhưng đến nay không thể nào hàn gắn tình nghĩa vợ chồng, nên sống ly thân từ tháng 09/2024 cho đến nay.
Nay nguyên đơn yêu cầu ly hôn, bị đơn đồng ý; về con chung là Nguyễn Thanh Tuấn A, bị đơn đồng ý để cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm Phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng; Về con chung giao cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng; Về việc cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn Nguyễn Chí T và yêu cầu giải quyết việc nuôi con, đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi trú tại huyện P, tỉnh Hậu Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn, tổ chức lễ cưới theo truyền thống, nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là không hợp pháp. Khi có tranh chấp về quan hệ hôn nhân và con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xét xử. Do đó mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn không được công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về mâu thuẫn: Quá trình chung sống, do bất đồng ý kiến, không hợp về tính cách, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 09 năm 2024 đến nay.
- Về con chung: Cháu Nguyễn Thanh Tuấn A, từ khi ly thân đến nay, nguyên đơn trực tiếp nuôi con chung. Bị đơn đồng ý để nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Nên giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Nguyên đơn, bị đơn được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 14; Điều 53; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận mối quan hệ giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Bé C và bị đơn Nguyễn Chí T là vợ chồng.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh Tuấn A; giới tính nam; sinh ngày 15/01/2024 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Bé C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Thanh T1 An đủ 18 (mười tám) tuổi. Bị đơn Nguyễn Chí T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bị đơn Nguyễn Chí T, không ai được quyền cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngìhn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001618 ngày 12/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
- Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hồ Văn Khởi |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
