Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Minh

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thắm
  • 2.Bà Nguyễn Kim Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:152/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1984
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Công C, sinh năm 1981

Cùng địa chỉ thường trú: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Cùng địa chỉ nơi ở: Tổ E, khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12/02/2025, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trương Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà T và ông Nguyễn Công C qua thời gian tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới được gia đình hai bên đồng ý. Đăng ký kết hôn vào ngày 22/8/2005 tại UBND phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn là xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông C hầu như ngày nào cũng uống rượu, khi đã say rượu, ông C không làm chủ cảm xúc, chửi bà T. Vì thương các con nên bà T cố gắng chịu đựng và mong ông C thay đổi bớt uống rượu. Tuy nhiên ông C không thay đổi mà ngày càng uống rượu nhiều hơn, ngày nào cũng say rượu chửi bới vợ con, làm cuộc sống của các con cũng bị ảnh hưởng. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, thậm chí không thể nói chuyện với nhau được nữa. Do đó bà T yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà T và ông C có 02 con chung là cháu Nguyễn Thái S, sinh ngày 06/3/2005 và cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 25/01/2010. Cháu S đã thành niên. Bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B. Hiện bà T làm công nhân thu thập mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng, đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu B, không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Bị đơn ông Nguyễn Công C có ý kiến trình bày trong quá trình tố tụng :

Về hôn nhân : Ông C thống nhất như lời khai của bà T.

Cuộc sống vợ chồng có những va chạm nhỏ nhưng nhìn chung vợ chồng chung sống hạnh phúc. Ông C là người biết quan tâm chăm sóc và phụ giúp vợ con. Ông C có thói quen là hay uống rượu, khi say rượu thì hay nói nên bà T không hài lòng, dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Vợ chồng vẫn ở chung nhà nhưng bà T tự ý ly thân, không quan tâm đến ông. Tình cảm của ông C với bà T vẫn còn. Vì vậy ông C không đồng ý ly hôn.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thái S, sinh ngày 06/3/2005 và cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 25/01/2010. Cháu S đã thành niên. Ông C không đồng ý ly hôn do vậy về con chung ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Không đồng ý ly hôn, do vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát :

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt ; bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt. Đề nghị xét xử vắng mặt họ theo quy định.

- Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà án xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết là ly hôn, tranh chấp nuôi con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Bà T và ông C tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 22/8/2005 tại UBND phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là hôn nhân hợp pháp.

Lý do bà T yêu cầu ly hôn với ông C vì cho rằng ông C thường xuyên uống rượu, nói nhiều vô thức, chửi bới xúc phạm bà. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Ông C cũng thừa nhận có thường xuyên uống rượu và khi say rượu thì hay nói dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Tuy nhiên, ông C cho rằng vợ chồng chỉ có những bất đồng nhỏ, vẫn hạnh phúc, nên không đồng ý ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông C đến tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải với bà T, nhưng ông C vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông C không quan tâm đến đời sống gia đình.

Đã có căn cứ khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà T yêu cầu ly hôn với ông C là có căn cứ.

Về con chung: Bà T và ông C có 02 con chung là cháu Nguyễn Thái S, sinh ngày 06/3/2005 và cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 25/01/2010. Cháu S đã thành niên. Xét bà T có việc làm và có thu nhập, đủ điều kiện nuôi, dạy con. Do đó chấp nhận yêu cầu của bà T giao cháu Nguyễn Thái B cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T tự nguyện không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà T, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ dân sự chung của vợ chồng: Bà T và ông C không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị T đối với bị đơn ông Nguyễn Công C về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”; bà Trương Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Công C.
  2. Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 25/01/2010 cho bà Trương Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trương Thị T không yêu cầu ông Nguyễn Công C phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bà Trương Thị T và ông Nguyễn Công C đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Ông Nguyễn Công C được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ dân sự chung của vợ chồng: Đương sự không tranh chấp,Tòa án không xem xét giải quyết.
  2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000083 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể tử ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương ;
  • - Lưu: HS, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Công C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger