|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-5-2025 V/v ly hôn giữa bà N và ông S |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Út.
- Bà Ngô Hồng Điệp.
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 về Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Trần Diễm N, sinh năm: 2002 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
Địa chỉ: ấp K, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang. - Bị đơn: ông Trần Thanh S, sinh năm: 2000 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2025, bản tự khai ngày 13/3/2025, nguyên đơn bà Trần Diễm N trình bày:
Về hôn nhân: bà N và ông S tìm hiểu yêu thương nhau trong thời gian dài và đi đến tổ chức lễ cưới vào ngày 30/4/2023, có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50/2024 ngày 04/9/2024. Quá trình chung sống, vợ chồng thường hay cải nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng ly thân từ ngày 15/11/2024 đến nay. Do đó, bà N yêu cầu ly hôn với ông S.
Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Trần Phương Tuyết N1, sinh ngày 12/11/2024, hiện đang sống chung với bà N. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
- Đối với bị đơn ông Trần Thanh S: sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông S không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà N, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Trần Diễm N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh S, ông S có nơi đăng ký thường trú tại xã P, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn bà Trần Diễm N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Trần Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông S theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về hôn nhân: bà Trần Diễm N và ông Trần Thanh S có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50/2024 ngày 04/9/2024 nên xác định hôn nhân giữa bà N và ông S là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà N trình bày, bà N và ông S tìm hiểu yêu thương nhau trong thời gian dài và đi đến tổ chức lễ cưới, quá trình chung sống vợ chồng thường hay cải nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng ly thân từ ngày 15/11/2024 đến nay. Do đó, bà N yêu cầu được ly hôn với ông S. Đối với ông S, ông S không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà N, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông S không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà N. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông S.
[2.2] Về nuôi con chung: bà N và ông S chung sống có 01 con chung tên Trần Phương Tuyết N1, sinh ngày 12/11/2024. Bà N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông S không có ý kiến phản hồi về yêu cầu này. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung Trần Phương Tuyết N1 dưới 36 tháng tuổi và hiện nay đang sống với bà N cuộc sống đã ổn định. Do đó, căn cứ theo khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao con chung Trần Phương Tuyết N1 cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng bà N không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà N trình bày không có, ông S không có ý kiến phản hồi về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Diễm N về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Trần Thanh S.
- Về hôn nhân: bà Trần Diễm N được ly hôn với ông Trần Thanh S.
- Về nuôi con chung: giao con chung Trần Phương Tuyết N1, sinh ngày 12/11/2024 cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: bà Trần Diễm N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0018372 ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà N đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thủy Tiên |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
