TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-6-2025 V/v: “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đào Đức Phú
- Ông Đỗ Văn Sơn
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1980
Địa chỉ: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. "Có mặt"
- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số F ngách A ngõ D Đường T, khu C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. "Vắng mặt"
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Mạnh H thống nhất trình bày:
Bà T và ông H tổ chức lễ cưới và chung sống từ năm 2002 nhưng đến ngày 24/9/2003 thì đăng ký kết hôn tại UBND phường T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Ninh theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, ông bà về chung sống với nhau ngay, cuộc sống chung giữa hai vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Theo như bà T trình bày, mâu thuẫn giữa bà và ông H phát sinh từ cuối năm 2021, nguyên nhân là do ông H nghiện rượu, ngày nào ông H cũng đi uống rượu, say xỉn, không tu chí làm ăn, mọi công việc, chi tiêu trong gia đình đều do một mình bà gánh vác. Mỗi lần uống rượu say về là ông H lại chửi bới, đuổi hai mẹ con bà ra khỏi nhà. Bà đã phải mang con về nhà ngoại ở nhờ hai lần, sau đó ông H tỉnh rượu lại xin lỗi, hứa sẽ từ bỏ rượu. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, ông H lại tiếp tục uống rượu say, thậm chí ông H còn uống rượu ngày này qua ngày khác. Đỉnh điểm mâu thuẫn là tháng 11 năm 2024, khi bà nói sẽ làm đơn ly hôn thì ông H đã đến nơi bà bán hàng cầm dao đe dọa và dọa tạt axit vào mặt bà T nếu bà T cố tình làm đơn ly hôn. Vì lo sợ nên bà T đã phải về nhà bố mẹ đẻ ở phường V ở nhờ từ cuối tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng ly thân thì ông H có xuống nhà xin lỗi bà và gia đình nhưng vẫn tiếp tục uống rượu. Kể cả khi Tòa án triệu tập làm việc thì ông H cũng uống rượu. Sự việc mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay bà T xác định mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã trầm trọng, ông H chỉ hứa mà không thay đổi, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống nên bà tha thiết xin được ly hôn với ông H.
Theo ông H trình bày: Ông thừa nhận là có hay uống rượu với bạn bè và mỗi lần uống rượu say là ông không kiểm soát được lời nói nên đã xúc phạm vợ một vài lần. Bà T trình bày là bị ông cầm dao, axit đe dọa là không chính xác, ông chỉ cầm cán ô và có đuổi vợ con chứ chưa bao giờ đánh bà T cả. Từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay bà T và con dọn về nhà ngoại ở, thì ông đã xin lỗi nhiều lần nhưng bà T vẫn không quay về. Nay ông xác định vợ chồng không có mâu thuẫn đến mức phải ly hôn, ông mong muốn bà T tha thứ cho ông thêm một lần nữa. Nếu bà T rút đơn quay về ở với ông, ông hứa sẽ không uống rượu để vợ chồng cùng
chung sống chăm lo cho con, cháu. Nếu bà T kiên quyết xin ly hôn, ông không đồng ý.
Về con chung: Bà T và ông H thống nhất trình bày: Ông bà có 01 con chung là anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 2002. Hiện tại anh H1 đã trưởng thành, phát triển bình thường nên ông bà không đề nghị Tòa án giao nuôi.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Bà T và ông H xác định vợ chồng không có gì, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.
Tại phiên tòa: Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông H.
Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến: Việc Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng thời hạn quy định của pháp luật. Việc Tòa án thu thập chứng cứ và ra các văn bản tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ: Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều Điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hoàng Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh H.
- - Về con chung: Con chung của ông H và bà T là anh Nguyễn Mạnh H1 đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường nên không xem xét giao nuôi.
- - Về tài sản chung: Bà T, ông H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- - Về án phí: Bà T phải chịu án phí LHST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Mạnh H vắng mặt nhưng có đơn đề xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, bà Hoàng Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh H. Lời đề nghị của bà T qua xem xét HĐXX nhận thấy: Bà T và ông H kết hôn từ ngày 24/9/2003, thủ tục kết hôn phù hợp luật định. Mâu thuẫn giữa bà T và ông H được xác định là do bất đồng về quan điểm sống và do ông thường xuyên uống rượu say dẫn đến không kiểm soát được lời nói, hành động; sự việc mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm nay, đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Mặc dù ông H không nhất trí ly hôn và mong muốn bà T rút đơn nhưng ông H cũng không đưa ra được phương án để giải quyết mâu thuẫn giữa hai vợ chồng; không những thế, kể từ khi vợ chồng ly thân từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay ông H vẫn không từ bỏ được rượu. Như vậy có thể xác định hôn nhân giữa bà T và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho bà T được ly hôn ông H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về con chung: Con chung của ông H, bà T là anh Nguyễn Mạnh H1 đã trưởng thành, phát triển bình thường nên HĐXX không xem xét giao nuôi.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông H đều xác định vợ chồng không có gì, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 28, 35, 39, 147; 227; 228; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ: Điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình
Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hoàng Thị T được ly hôn ông Nguyễn Mạnh H.
- Về con chung: Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 2002 là con chung của ông H, bà T đã trưởng thành và phát triển bình thường.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông H không có gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000321 ngày 08/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoan |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Đào Đức Phú | Đỗ Văn Sơn | Trần Thị Hoan |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Ngày 24 tháng 6 năm 2025
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn S
Ông Đào Đức P
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 246/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1980
Địa chỉ: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số F ngách A ngõ D Đường T, khu C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ: Điều 28, 35, 39, 147; 227; 228; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ: Điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình
Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hoàng Thị T được ly hôn ông Nguyễn Mạnh H.
- Về con chung: Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 2002 là con chung của ông H, bà T đã trưởng thành và phát triển bình thường.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông H không có gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000321 ngày 08/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí
Nghị án kết thúc cùng ngày
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Đào Đức Phú Đỗ Văn Sơn | Trần Thị Hoan |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 01/2025/QĐ-SCBSBA | Bắc Ninh, ngày 15 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Căn cứ vào Điều 268 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án do lỗi chính tả, về số liệu do nhầm lẫn trong Bản án số: 10/2024/HNGĐ - ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh về “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình”, giữa:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1992
Cư trú tại: Đường V, khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Minh H2, sinh năm 1980; anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1981. Cùng địa chỉ liên lạc: Khu A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là người đại diện theo ủy quyền liên quan đến chia tài sản chung và con chung của bà Hoàng Thị T (văn bản ủy quyền lập ngày 09 và ngày 11/12/2024)
Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1993
Cư trú tại: Đường V, khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh N, sinh năm 1971. Cư trú tại: Khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là người đại diện theo ủy quyền liên
quan đến chia tài sản chung và con chung của ông Nguyễn Mạnh H (văn bản ủy quyền lập ngày 15/8/2024)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1 – Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (theo đơn yêu cầu luật sư ngày 03/12/2024)
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa chữa Bản án số: 10/2024/HNGĐ - ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh như sau:
Tại dòng thứ 3, 4 từ dưới lên trang 1 của Bản án trên trê đã ghi: “anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1983”.
Nay sửa chữa như sau: “anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1981”.
Bổ sung dòng thứ 3, trang 13 từ dưới lên trang 13 của Bản án trên như sau:
"Ông Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật."
Bổ sung trang 15 phần Quyết định Bản án trên như sau:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Trần Thị Hoan |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
