|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 – 6 – 2025.
“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thành Trung và bà Trần Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Bá Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 50/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 23/TB-TA, ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Tạ Thị Thùy X, sinh năm 1999, nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1996, nơi cư trú: thôn A, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
(Chị X vắng mặt và đã có đơn xét xử vắng mặt; anh V vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện, lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Tạ Thị Thùy X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị X và anh Nguyễn Thanh V tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo giấy kết hôn số 06/2022, ngày 13/01/2022. Vợ chồng chung không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, bất đồng quan điểm về các vấn đề trong cuộc sống, anh V không quan tâm, chia sẽ với chị X; nhiều lần vợ chồng đã cố gằng hàn gắn nhưng vẫn không thay đổi; đến tháng 01/2025 vợ chồng không còn chung sống với nhau cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện nay, chị X không còn yêu thương anh V nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Chị X và anh V có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Đ, sinh ngày 08/7/2022. Hiện tại cháu Đ do chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị X làm công nhân may gia công gần nhà, công việc và thu nhập ổn định; chị X có nơi ở ổn định; có đủ điều kiện đảm bảo nuôi dưỡng cháu Đ được phát triển tốt; chị X không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị X không yêu cầu giải quyết.
[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Nguyễn Thanh V không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh V và cũng không tiến hành hòa giải được.
[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 13/01/2022; 01 bản sao giấy khai sinh số 166, ngày 31/8/2022 của Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Ngoài ra, Tòa án cùng đại diện địa phương đã tiến hành xác minh tại địa phương thôn A, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận về việc cư trú của bị đơn anh Nguyễn Thanh V và về quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị X, anh V; lập các Biên bản xác minh ngày 27/03/2025 và ngày 01/4/2025.
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Thùy X; xử cho chị X được ly hôn với anh Nguyễn Thanh V; giao cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Đ, sinh ngày 08/7/2022 cho đến khi thành niên; buộc chị X phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Tạ Thị Thùy X vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Thanh V tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 những vẫn vắng mặt không có lý do; đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Tạ Thị Thùy X, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Tạ Thị Thùy X về việc giải quyết cho chị Tạ Thị Thùy X được ly hôn với anh Nguyễn Thanh V; Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2022, ngày 13/01/2022 của Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn đã cung cấp và căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn; có đủ cơ sở xác định: chị Tạ Thị Thùy X và anh Nguyễn Thanh V tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị X, anh V là hợp pháp. Vì vậy, chị X có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn chị Tạ Thị Thùy X khẳng định: Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nhiêm trọng do bất đồng về các vấn đề trong cuộc sống; anh Nguyễn Thanh V không quan tâm, chia sẽ với chị X; dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã không còn sống chung từ tháng 01/2025 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Tại biên bản xác minh, địa phương thôn A, xã G cũng như thông tin: Vợ chồng chị X, anh V có phát sinh mâu thuẫn và chung sống không hòa thuận, sau đó vợ chồng không còn chung sống cho đến nay. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh V vắng mặt không có lý do và chị X cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ; điều này cho thấy chị X và anh V đều không có nguyện vọng đoàn tụ.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị X, anh V đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị X yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị X được ly hôn với anh V.
[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Tạ Thị Thùy X về việc giải quyết nuôi con; Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Trích lục khai sinh bản sao số 166/TLKS-BS ngày 31/8/2022 của Ủy ban nhân dân xã G mà nguyên đơn đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn; có đủ cơ sở xác định được: Chị Tạ Thị Thùy X và anh Nguyễn Thanh V có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Đ, sinh ngày 07/7/2022.
Căn cứ lời khai phù hợp của các đương sự; căn cứ thông tin địa phương thôn A, xã G cung cấp; có đủ cơ sở xác định được: Cháu Nguyễn Ngọc N Đan chung sống với chị X từ khi vợ chồng không còn chung sống cho đến nay; đã gần gũi, quen thuộc, ổn định với nề nếp sinh hoạt, môi trường sống, môi trường giáo dục và cuộc sống với chị X; quá trình dược chị X nuôi dưỡng, cháu D phát triển tốt về mọi mặt. Do đó yêu cầu của chị X về việc nuôi con là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung chưa thành niên, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận. Theo đó, cần xử giao cho chị Tạ Thị Thùy X có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Đ, sinh ngày 07/7/2022 cho đến khi thành niên; anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
[3.3]. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung:
Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[4]. Về án phí:
Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử buộc chị Tạ Thị Thùy X có nghĩa vụ chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:
Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Thùy X:
Về việc ly hôn: chị Tạ Thị Thùy X được ly hôn với anh Nguyễn Thanh V.
Về việc nuôi con: Giao cho chị Tạ Thị Thùy X có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Đ, sinh ngày 07/7/2022 cho đến khi thành niên. Anh Nguyễn Thanh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp các đương sự có thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[2]. Về án phí: buộc chị Tạ Thị Thùy X có nghĩa vụ chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001543 ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Tạ Thị Thùy X đã nộp đủ tiền án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm công khai, các đương sự đều được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
