Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-02-2025

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Nữ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
  2. Ông Nguyễn Anh Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 920/2024/HNST ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1767/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1978,
  2. Địa chỉ: 3 H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

    (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

  3. Bị đơn: Ông Ngô Bá Đ, sinh năm 1978,
  4. Địa chỉ: 3 H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:

Bà và ông Ngô Bá Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01 ngày 05/11/2007 của Ủy ban nhân dân phường T, huyện C, tỉnh Hà Tây.

Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do khác biệt về quan điểm sống. Dù bà đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể hàn gắn được nữa. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không thể giải quyết, bà không thể tiếp tục sống chung nên yêu cầu ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: Bà N khai có 02 con chung tên Ngô Lê Tấn M, sinh ngày 05/9/2008 và Ngô Lê Thế A, sinh ngày 15/11/2009. Khi ly hôn bà N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô Lê Tấn M, sinh ngày 05/9/2008 và Ngô Lê Thế A, sinh ngày 15/11/2009, bà N không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà N khai không có.

Bị đơn ông Ngô Bá Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Lê Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Ngô Bá Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến với những nội dung chính sau:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ việc, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: đúng quy định tại các Điều từ Điều 239 đến 260 và Điều 263 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã vi phạm theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 54, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Nhận thấy mẫu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông Đ đã thật sự trầm trọng, bà N yêu cầu ly hôn, ông Đ không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không đến Tòa để hòa giải đoàn tụ, điều này thể hiện ông Đ không còn mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình, nên bà N yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ các Điều 68, 72, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Bà N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung; ông Đ không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc nuôi con sau khi ly hôn nên không có cơ sở xem xét ý kiến của ông Đ, vì vậy bà N yêu cầu nuôi con chung là có cơ sở chấp nhận. Hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đ do bà N không yêu cầu.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét,

Về nợ chung: Bà Lê Thị N khai không có nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị N phải chịu án phí theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp:

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Lê Thị N yêu cầu ly hôn ông Ngô Bá Đ, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo Kết quả xác minh ngày 11/11/2024 của Công an phường P, quận T thì bị đơn ông Ngô Bá Đ hiện cư trú tại nhà số C H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Lê Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

Bị đơn ông Ngô Bá Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, 177, 179, 196, 208, 220, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Đ đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan, nên căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01 ngày 05/11/2007 của Ủy ban nhân dân phường T, huyện C, tỉnh Hà Tây có đủ cơ sở xác nhận hôn nhân giữa bà Lê Thị N và ông Ngô Bá Đ là hợp pháp, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Lê Thị N trình bày cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống không còn phù hợp. Hai bên không còn quan tâm nhau, cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt, căng thẳng, mệt mỏi. Hai bên đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không kết quả. Nay bà nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không thể giải quyết, và không thể tiếp tục sống chung nên yêu cầu ly hôn với ông Đ để ổn định cược sống.

Tòa án đã triệu tập ông Đ đến Tòa để hòa giải tình cảm vợ chồng nhưng ông Đ đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà N, điều này thể hiện ông Đ không còn mong muốn hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Tại Điều 19, 21 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu...có nghĩa vụ sống chung...” “vợ chồng có nghĩa tôn trọng, giữ gìn bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau ”.

Từ những lời trình bày của đương sự và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà N và ông Đ đã phát sinh mâu thuẫn từ rất lâu; hai bên không còn thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng nhau nên tình trạng hôn nhân giữa hai bên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn; đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị N yêu cầu ly hôn với ông Ngô Bá Đ là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Bà Lê Thị N khai có hai con chung tên Ngô Lê Tấn M, sinh ngày 05/9/2008 và Ngô Lê Thế A, sinh ngày 15/11/2009. Bà N yêu cầu được quyền trực nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đ không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc nuôi con sau khi ly hôn nên không có cơ sở xem xét ý kiến của ông Đ, vì vậy, để ổn định tâm sinh lý và vì quyền lợi về mọi mặt của các con nên quyết định giao con chung cho bà Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đ do bà N không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Bà Lê Thị N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do nguyên đơn bà Lê Thị N phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 264, Điều 266; Điều 267; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Ngô Bá Đ. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn 71, quyển số 01 ngày 05/11/2007 của Ủy ban nhân dân phường T, huyện C, tỉnh Hà Tây không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
    • - Về con chung: Có 02 con chung tên Ngô Lê Tấn M, sinh ngày 05/9/2008 và Ngô Lê Thế A, sinh ngày 15/11/2009. Bà Lê Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Ngô Bá Đ do bà Lê Thị N không yêu cầu.

Trong trường hợp bà N không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Bà N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp ông Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị N phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0045291 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà Lê Thị N đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Quyền kháng cáo: Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  1. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - UBND phường Trung Hòa, huyện
  • Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Nữ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger