Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15/4/2025

V/v: Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng

Ông Nguyễn Tất Thể

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:

Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H1, sinh năm: 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Bỉ. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Thị H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị H1 và ông Nguyễn Văn H2 kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 06/11/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Sau đó thì ông H2 đi xuất khẩu lao động tại Bỉ nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống xa cách nhau nên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trịnh Thị H1 đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Văn H2.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay, bị đơn ông Nguyễn Văn H2 đang lao động tự do tại Bỉ, không có địa chỉ cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương cũng như thông qua người thân của ông H2 nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của ông H2. Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ trong ba ngày liên tiếp 18, 19, 20/02/2025 để thông báo cho ông Nguyễn Văn H2 có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn được thông báo, ông H2 không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, Toà án không thu thập được ý kiến cũng như lời khai của ông H2, không tiến hành hoà giải vụ án được.

Tại Công văn cung cấp thông tin tình trạng hôn nhân số 27/UBND-TP ngày 03/4/2025, Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cung cấp thông tin như sau: Việc vợ chồng bà H1, ông H2 có mâu thuẫn gì hay không thì Ủy ban nhân dân xã T không nắm được vì bà H1, ông H2 không có báo cáo gì với chính quyền địa phương.

Tại các Biên bản xác minh với ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị V (em trai ruột và mẹ đẻ của ông Nguyễn Văn H2), ông C và bà V có nội dung trình bày: Việc bà H1 nộp đơn xin ly hôn, gia đình đã nhận được thông báo của Tòa án và báo lại cho ông H2 biết. Hiện ông H2 đang lao động tại Bỉ, vẫn thường liên lạc với gia đình, tuy nhiên gia đình không biết địa chỉ cụ thể của ông H2 nên không cung cấp cho Tòa án được. Gia đình tự nguyện nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo đầy đủ lại kịp thời cho ông H2 được biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 217, Điều 464, 469 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10, Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao; đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị H1; xử cho bà Trịnh Thị H1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn H2.

Về con chung: Không có nên không xem xét.

Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc nguyên đơn bà Trịnh Thị H1 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trịnh Thị H1 và ông Nguyễn Văn H2 đăng ký kết hôn ngày 06/11/2004 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nay bà Trịnh Thị H1 khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H2. Tại công văn cung cấp thông tin danh sách khách xuất nhập cảnh số 1171/QLXNC-Đ1 ngày 19/11/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: Ông Nguyễn Văn H2, sinh ngày 24/6/1978; số Hộ chiếu: N1699573; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh ngày 18/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trịnh Thị H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 đang lao động ở nước ngoài, vắng mặt không có lý do; qua xác minh, người thân của ông H2 không cung cấp được địa chỉ cụ thể của ông H2 ở nước ngoài nên thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Mặc dù đã được Tòa án thông báo làm việc, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông H2 không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà H1, ông H2 theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị H1 và ông Nguyễn Văn H2 tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2004, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân x xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của bà H1 và ông H2 là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Sau đó thì ông H2 đi xuất khẩu lao động tại Bỉ nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống xa cách nhau nên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trịnh Thị H1 đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Văn H2. Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt các thông báo, quyết định và đăng tin thông báo theo quy định của pháp luật nhưng không có mặt tại Tòa án để giải quyết, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà H1 và ông H2 là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà H1 yêu cầu được ly hôn ông H2 là có căn cứ và phù hợp. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H1, cho bà H1 và ông H2 ly hôn.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trịnh Thị H1. Cho bà Trịnh Thị H1 và ông Nguyễn Văn H2 ly hôn.
  2. Về án phí: Bà Trịnh Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000142 ngày 23/10/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Thể

Bùi Văn Hồng

Hoàng Ngọc Tùng

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Nghi Vạn, H. Nghi Lộc, T. Nghệ An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về xin ly hôn

  • Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger