Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13-6-2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hoàng và bà Phạm Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa:

Bà Dương Thị Mộng Thu là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa:

Ông Phan Hoàng Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Hôn nhân giữa chị N và anh T do được mai mối và được cha mẹ hai bên đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V theo giấy chứng nhận số 46 ngày 09/4/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng đi làm thuê ở Đồng Nai, thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn phụ giúp gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, anh chị đã bỏ nhau 03 lần, vì con nên chị hàn gắn để nuôi con nhưng anh T vẫn không thay đổi, đến năm 2023 thì mâu thuẩn vợ chồng trở nên trầm trọng và anh chị không còn sống chung từ năm 2023 cho đến nay. Gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N và anh T có 03 đứa con chung tên Huỳnh Quốc K, sinh năm 2002; Huỳnh Thị Mỹ H, sinh ngày 30/01/2006 và Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 28/04/2018. Hiện cháu Huỳnh Quốc K và Huỳnh Thị Mỹ H đã trưởng thành và lao động được. Riêng cháu Huỳnh Hải Đ đang sống với anh T. Chị N đồng ý giao cháu Đ cho anh T được quyền nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Huỳnh Văn T đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Chị Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 191, 192, 203 và Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Huỳnh Văn T; về con chung: Đề nghị HĐXX giao đứa con chung tên Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 28/04/2018 cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn T có nơi cư trú tại tổ A, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Văn T kết hôn với nhau vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn phụ giúp gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh chị đã bỏ nhau 03 lần, vì con nên chị hàn gắn để nuôi con nhưng anh T vẫn không thay đổi, đến năm 2023 thì mâu thuẩn vợ chồng thật sự trầm trọng nên anh chị không còn sống chung từ đó cho đến nay. Gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử, xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân nhau anh chị cũng không có thiện chí khắc phục những mâu thuẩn gia đình để vợ chồng đoàn tụ và kể từ ngày chị N nộp đơn xin ly hôn với anh T cho đến nay anh T đã cố tình né tránh không đến tòa án để tham gia hòa giải cũng như tham dự phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xét, cho chị N được ly hôn với anh T.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 03 đứa con chung tên Huỳnh Quốc K, sinh năm 2002; Huỳnh Thị Mỹ H, sinh ngày 30/01/2006 và Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 28/04/2018. Hiện cháu Huỳnh Quốc K và Huỳnh Thị Mỹ H đã trưởng thành và lao động được. Riêng cháu Huỳnh Hải Đ đang sống với anh T. Chị N đồng ý giao cháu Đ cho anh T được quyền nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và cháu Đ cũng có nguyện vọng được sống với anh T. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét, giao con chung tên Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 28/04/2018 cho anh T được quyền nuôi dưỡng cho đến khi cháu Huỳnh Hải Đ trưởng thành và lao động được.

“Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; chị N có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh T vắng mặt và anh cũng không có yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con. Nếu anh T có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì anh có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh T vắng mặt nên HĐXX không xem xét về tài sản chung của anh chị. Nếu anh T chứng minh được vợ chồng có tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung thì anh có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

Về hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Huỳnh Văn T.

Về con chung:

Anh Huỳnh Văn T được quyền nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 28/04/2018 cho đến khi cháu Đ trưởng thành và lao động được.

“Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; chị N có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số: 0014018 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

“Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ”.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TX.Tân Châu;
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu;
  • - UBND xã, phường;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ, V.phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Huỳnh Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger