|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12-6-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thanh Hà
- Ông Nguyễn Văn Trãi
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Quang V, sinh năm 1992.
- Bị đơn: Chị Đào Thị Bút P, sinh năm 1992.
Địa chỉ: khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Tất cả có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2025 và quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Trần Quang V trình bày:
Anh V và chị P, hai người tự nguyện thương yêu nhau và tiến tới hôn nhân, sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Trong thời gian sống chung hai người khá hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì đôi bên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, kinh tế gia đình, do bà P thường xuyên gây nợ nần. Do đó cuộc hôn nhân không còn hạnh phúc, nên anh V nộp đơn yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn với chị P.
Về con chung: Có 02 (hai) người, gồm: Trần Mai A, sinh ngày 30/3/2015 (nữ), và Trần Mai C, sinh ngày 16/12/2021 (nữ), hiện các con đang sống chung trong gia đình. Sau khi ly hôn, anh V xin được quyền tiếp tục nuôi dưỡng các cháu đến trưởng thành, không yêu cầu chị P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: anh V khai nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị P trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung chị P trình bày thống nhất như nội dung trình bày của anh V. Nay, chị P cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh V. Về con chung, chị P thống nhất giao con cho anh V nuôi dưỡng các con đến trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: anh Trần Quang V cùng với chị Đào Thị B Pha chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay, anh V có đơn yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo quy định tại Điều 53 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Về sự vắng mặt của các bên đương sự tại phiên tòa, xét thấy các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt, nên áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử theo trình tự, thủ tục chung theo pháp luật quy định.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án các bên đã được tòa án triệu tập đến để hòa giải, động viên vợ chồng bỏ qua mâu thuẫn, đoàn tụ chung sống với nhau nhằm để xây dựng lại hạnh phúc gia đình, thế nhưng các bên đương sự vẫn vắng mặt, đồng thời còn có đơn xin xét xử vắng mặt cùng với ý kiến đồng thuận ly hôn. Từ đó, cho thấy là các bên không còn thiện chí để hàn gắn lại hạnh phúc của vợ chồng. Vì các lẽ đó, xét thấy quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh V và chị P thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân của đôi bên không đạt được, vì vậy, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Các bên khai nhận có 02 (hai) người, gồm: Trần Mai A, sinh ngày 30/3/2015 (nữ), và Trần Mai C, sinh ngày 16/12/2021 (nữ), hiện các con đang sống chung trong gia đình anh V, chị P. Theo bản tự khai của cháu Trần Mai A, cháu có nguyện vọng sống với cha. Đồng thời anh V cũng có yêu cầu nuôi dưỡng, chị P cũng đồng ý nên cần giao các cháu cho anh V nuôi dưỡng đến trưởng thành. Chị P không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Anh V và chị P khai nhận không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
[5] Về án phí:
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng, anh V chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 53, 56, 80,81, 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Quang V được ly hôn với chị Đào Thị Bút P
Về con chung: Giao các cháu Trần Mai A, sinh ngày 30/3/2015 (nữ), và Trần Mai C, sinh ngày 16/12/2021 (nữ) cho anh Trần Quang V nuôi dưỡng đến trưởng thành. Chị P không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh Đ theo quy định của pháp luật.
Tài sản chung và nợ chung: anh V và chị P khai nhận không có. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
[2]. Về án phí:
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh V có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số 0002474 ngày 07/5/2025 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí (công nhận anh V đã nộp xong)
[3]. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự được quyền kháng cáo bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Văn Mẫn |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
