Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - NGHỆ AN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 – 11 – 2025

V/v "Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Bảng.

Ông Trần Lê Anh Đức.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tiến Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Kim Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã V, tỉnh Nghệ An. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Phan Thị N, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: Xóm E, xã H, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/9/2025 và Bản tự khai anh Đặng Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Phan Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C (nay là xã V), tỉnh Nghệ An vào ngày 04/7/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân trở nên gò bó, không hạnh phúc. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chỉ sau khoảng 9 tháng sau khi kết hôn thì vợ chồng quyết định sống ly thân từ đó đến nay; mặc dù được gia đình nội ngoại hai bên khuyên ngăn nhưng không được. Đến năm 2021 thì anh xuất khẩu lao động sang Đài Loan cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị N.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị Phan Thị N không có con chung. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Phan Thị N trình bày: Chị thừa nhận thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn; nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như anh T đã trình bày. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc anh T làm đơn xin ly hôn với chị thì chị cũng hoàn toàn đồng ý, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Về con chung: Chị và anh Đặng Văn T không có con chung. Vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Công văn số 361/UBND-TP ngày 05/11/2025 của UBND xã V, tỉnh Nghệ An về việc trả lời xác minh việc đăng ký kết hôn của công dân thể hiện: Anh Đặng Văn T và chị Phan Thị N có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y (cũ) nay là UBND xã V, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/7/2012 theo số đăng ký kết hôn 084/2012.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Nghệ An phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 122, 123 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; xử: Về hôn nhân: Cho anh Đặng Văn T và chị Phan Thị N được ly hôn. Về con chung: Không có con chung, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Đặng Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn với chị Phan Thị N có nơi đăng ký thường trú tại xã H, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn anh Đặng Văn T có bản tự khai, đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đơn xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc và phiên tòa. Các tài liệu trên của anh Đặng Văn T đều được chứng thực của Văn phòng K tại Đ theo đúng quy định tại Điều 478 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xác định đây là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định.

[2]. Về hôn nhân: Anh Đặng Văn T và chị Phan Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C (nay là xã V), tỉnh Nghệ An vào ngày 04/7/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không phù hợp nhau, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhâu. Anh T và chị N đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân gia đình, làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh T và chị N đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn. Vì vậy cần căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn T, cho anh Đặng Văn T và chị Phan Thị N được ly hôn.

[3]. Về con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh Đặng Văn T và chị Phan Thị N đều thừa nhận vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị N thống nhất không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Anh Đặng Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Xét các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56. 122, 123 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4, Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 469; Điều 478; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn T.

  1. Về hôn nhân: Cho anh Đặng Văn T và chị Phan Thị N được ly hôn.
  2. Về án phí: Anh Đặng Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000785 ngày 06/10/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh N.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Đặng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Phan Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 6 – Nghệ An;
  • - Cơ quan THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Vân Tụ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN về ly hôn

  • Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tiến - Nguyệt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger