TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06 tháng 06 năm 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh và ông Lê Việt Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Lâm Thanh T, sinh ngày 07/09/1999. (vắng mặt)
- Địa chỉ và chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- * Bị đơn: Ông Võ Hoàng N, sinh ngày 19/07/1993. (vắng mặt)
- Địa chỉ và chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Võ Hoàng N là: Ông Lê Hoàng N1 – Luật sư của Công ty L Tạ Nguyệt T1. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lâm Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông N tự nguyện quen biết trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục và chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 17/12/2020. Thời gian sống chung thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể nào hàn gắn được. Đến nay bà xác định không còn tình cảm với ông N nên cương quyết yêu cầu ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà và ông N có 02 con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024. Hiện cả hai con chung đang ở chung với bà. Ngoài ra không còn con chung, con nuôi nào khác. Nay ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi cả hai con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Võ Hoàng N có ý kiến trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quá trình sống chung vợ chồng có mâu thuẫn, đến nay cũng không thể hàn gắn sống chung được; đồng thời ông xác định là không còn tình cảm vợ chồng với bà T nữa. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ông không đồng ý ly hôn, lý do là vì không thống nhất với bà T về ai là người nuôi con chung và về tài sản chung chưa thống nhất.
Đến trước ngày mở phiên tòa (ngày 05/6/2025), ông N có bản tự khai xác định đồng ý ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông và bà T có 02 con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024. Hiện cả hai con chung đang ở chung với bà T. Ngoài ra không còn con chung, con nuôi nào khác. Quá trình giải quyết vụ án ông N có ý kiến xác định: Trường hợp phải ly hôn thì ông yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020.
Đến trước ngày mở phiên tòa (ngày 05/6/2025), ông N có bản tự khai xác định đồng ý giao cả hai con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024 cho bà T trực tiêp nuôi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến trình bày của ông Lê Hoàng N1 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông N:
Về quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà T yêu cầu ly hôn và đến nay ông N cũng đồng ý ly hôn nên yêu cầu Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T với ông N.
Về con chung: Ông N đồng ý giao cả hai con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024 cho bà T trực tiếp nuôi yêu cầu Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.
Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát không có ý kiến gì.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thanh T yêu cầu ly hôn, ông Võ Hoàng N đồng ý ly hôn nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn của bà Lâm Thanh T và ông Võ Hoàng N.
- Về con chung: Giao con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024 cho bà Lâm Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Võ Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn và yêu cầu trực tiếp nuôi con, đối với bị đơn là ông N. Ông N có địa chỉ cư trú tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu, đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bà T, ông N và ông N1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đương sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông N tự nguyện chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà T yêu cầu ly hôn; ông N đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà T và ông N.
[3.2] Về con chung: Bà T và ông N có 02 con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024, hiện hai cháu đang sống chung với bà T. Cả bà T và ông N thống nhất giao cả hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của bà T và ông N, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật nên ghi nhận sự thỏa thuận này. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở giao con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông N thống nhất xác định: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.4] Về tài sản chung: Bà T xác định không có tài sản chung vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông N xác định vợ chồng có tài sản chung, tuy nhiên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.5] Về nợ chung: Bà T và ông N thống nhất xác định không có, không cầu không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Trong vụ án này, mặc dù bà T và ông N đã thống nhất các nội dung trong vụ án. Quá trình giải quyết vụ án ông N yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án phải mở phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Áp dụng Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà T và ông N thuận tình ly hôn nên án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000 đồng. Bà T và ông N mỗi người phải chịu 75.000 đồng, bà T tự nguyện chịu thay cho ông N nên bà T phải nộp 150.000 đồng.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 5, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 55, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Lâm Thanh T và ông Võ Hoàng N.
- Về con chung: Giao con chung tên Lâm Võ Thanh V, sinh ngày 03/01/2020 và Lâm Võ Thanh T2, sinh ngày 26/8/2024 cho bà Lâm Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (Hiện cả hao con chung đang ở với bà T). Ông Võ Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 150.000đồng: Bà Lâm Thanh T tự chịu toàn bộ 150.000 đồng.
Bà Lâm Thanh T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005881 ngày 21/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu án phí 150.000đồng, sau khi đối trừ án phí, bà T được hoàn lại 150.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thị Mỹ Hằng |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
