|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06-3-2025
V/v tranh chấp xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Ông Duyên Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 691/2024/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1997 (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Anh Trần Sơn T, sinh năm 1997 (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày: Chị và anh Trần Sơn Tình tự N kết hôn vào năm 2013, đến ngày 21/11/2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Thời gian chung sống thường xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc và tự sống riêng với nhau, do không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung của chị và anh T có một người tên Trần Ngọc T1, sinh ngày 05/12/2013 đang ở cùng anh T, sau khi ly hôn chị thống nhất giao con cho anh T nuôi, không cấp dưỡng.
Về tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết và đề nghị vắng mặt.
Ý kiến anh Trần Sơn T trình bày: Anh và chị Hoàng Thị H tự nguyện kết hôn như lời chị H trình bày là đúng, trong cuộc sống do phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng nên chị H bỏ đi, nay chị H yêu cầu ly hôn anh đồng ý.
Về con chung của anh và chị H có một người như chị H trình bày, sau khi ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu câp dưỡng.
Về tài sản anh cũng không có yêu cầu và đề nghị vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Hoàng Thị H được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Chị Hoàng Thị H và anh Trần Sơn T có yêu cầu vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh T.
[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T được xác lập vào năm 2013, đến ngày 21/11/2017 đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.
Quá trình chị H và anh T chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do tính tình không hợp dẫn đến có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng và không tin tưởng lẫn nhau làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Thực tế, anh chị đã sống ly thân nhau, thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa dịu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, phía chị H và anh T đều xác định không thể tiếp tục sống chung và đồng ý ly hôn với nhau. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị H và anh T có một người con chung, sau khi ly hôn chị H đồng ý giao con cho anh T nuôi, như vậy các đương sự đã thoả thuận việc nuôi con và sự thoả thuận của đương sự không trái với quy định của pháp luật. Để không làm xáo trộn môi trường sống của con, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho anh T nuôi là phù hợp, phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Chị H có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về tài sản: Đương sự không có yêu cầu về phần tài sản nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Chị Hoàng Thị H và anh Trần Sơn T thuận tình ly hôn trước khi mở phiên toà nên chị H và anh T mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) 75.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí chị H đã nộp được khấu trừ.
[8] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Trần Sơn T.
Về con chung: Anh Trần Sơn T nuôi con tên Trần Ngọc T1, sinh ngày 05/12/2013 đang ở cùng anh T, không đặt ra việc cấp dưỡng.
Chị H có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh T.
Vì lợi ích của con chưa thành niên nên chị H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và anh T có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) chị Hoàng Thị H và anh Trần Sơn T mỗi người phải chịu 75.000 đồng.
Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005908 ngày 18/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ, phần còn thừa chị H được nhận lại.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Hải |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
