|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/DSPT
Ngày 16/4/2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Xuân Ninh.
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Thế Bình
Ông Nguyễn Thanh Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2025/TLPT- DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do bản án sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 110/2025/QĐ-PT ngày 01/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966;
Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ. Cùng có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và quá trình tố tụng tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C trình bày:
Bà và vợ chồng ông Nguyễn Văn L là người cùng thôn, có họ hàng xa. Năm 2018, tỉnh Bắc Ninh, huyện T và UBND xã Đ có chương trình đấu giá đất giãn dân tại thôn Đ để cho người dân được mua đất, bà trúng thầu và được mua 1 lô đất với giá 10.050.000đ/ 1m². Sau khi trúng thầu bà được xã Đ giao đất theo mô mốc. Năm 2020, thửa đất trúng thầu của bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng là thửa đất số 860, tờ bản đồ số 31, diện tích 111,7m². Sau đó bà và ông L đã phân chia ranh giới bằng việc xây tường ngăn ở cạnh phía Tây thửa đất của bà với cạnh phía Đông thửa đất của ông L. Thời điểm xây bờ tường, ông L chỉ mốc giới cho bà xây chứ không có địa chính xã chỉ ranh giới. Sau nhiều năm nhận đất, bà vẫn chưa xây công trình trên đất mà vẫn là đất trống. Hiện tại, bà có nhu cầu sử dụng đất nên đã nhờ đo đạc lại và thấy thửa đất của bà bị nhà ông L lấn chiếm chính là phần bờ tường mà ông L đã chỉ cho bà xây trước đây. Thời điểm khởi kiện, bà đã thuê công ty Đ2 xác định diện tích đất bị ông L lấn chiếm là 12,8m². Nhưng theo kết quả đo đạc của Toà án khi tiến hành thẩm định, định giá thì diện tích lấn chiếm hiện tại là 14,6m². Bà đề nghị Toà án buộc ông L, bà Đ phải trả bà 14,6m² đất đã lấn chiếm. Bà nhất trí với kết quả định giá mà Toà án đã tiến hành định giá. Bà giao nộp cho Toà án sơ đồ hiện trạng thửa đất của công ty Đ2 và bản đồ Kinh Bắc chứng minh diện tích đất bị ông L lấn chiếm và giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Trần Thị Đ thống nhất trình bày: Thửa đất số 700, tờ bản đồ số 31 được ông, bà mua của thôn, xã từ năm 1990. Thời điểm mua thửa đất trên là ao. Ông, bà đã san lấp ao thành đất liền và xây dựng nhà, công trình trên đất. Sau đó ông, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên là thửa số 700, tờ bản đồ số 31, diện tích 296m². Từ năm 1990 đến nay, ông, bà quản lý, sử dụng thửa đất ổn định không tranh chấp với ai. Trong quá trình sử dụng đất, ông, bà mua thêm của địa phương một phần diện tích đất xem kẹp có diện tích 96m² giáp với thửa đất số 700 nêu trên, hình thành thửa đất có hình thể, kích thước như hiện tại là 392m². Tuy nhiên, hiện phần diện tích đất 96m² của ông, bà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng do ông, bà chưa hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước. Toàn bộ thửa đất số 700 của ông, bà có 2 cạnh giáp với đường giao thông là cạnh T và cạnh B, cạnh Nam giáp với thửa đất nhà ông H được phân định ranh giới bằng tường nhà ông H, cạnh Đ1 giáp với thửa đất của bà C được phân định bằng tường xây gạch do bà C xây năm 2019. Trên phần đất giáp ranh với bà C, ông, bà đã xây dựng 01 lán tôn năm 2019, trồng 1 cây xoài năm 2015 và phía ngoài cổng có cánh gà được xây dựng từ năm 2016. Ông bà chỉ có lời trình bày, không có tài liệu, chứng cứ nào giao nộp xác định thời điểm xây dựng và trồng cây.
Ông, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C. Ông, bà xác định không lấn chiếm đất của bà C như bà C khởi kiện. Ông, bà không nhất trí với mức giá đất mà hội đồng định giá đưa ra nhưng không đưa ra được mức giá phù hợp.
Ông, bà giao nộp cho Tòa án những giấy tờ xác định thửa đất số 700 là của ông, bà. Đồng thời xác định các con, cháu của ông bà đang sinh sống trên thửa đất số 700 không liên quan gì đến thửa đất, không có công sức đóng góp tân tạo đất. Do vậy, đề nghị Toà án không đưa các con, cháu của ông, bà vào tham gia tố tụng trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương về nguồn gốc, diện tích đất, thẩm định, định giá. Cụ thể:
- Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương về nguồn gốc, diện tích hai thửa đất số 860 và 700. Kết quả xác minh thể hiện: Thửa đất số 860 của bà Nguyễn Thị C có nguồn gốc là đất đấu thầu từ năm 2018. Sau khi bà C trúng thầu thì Phòng Tài nguyên và môi trường huyện T phối hợp với UBND xã Đ đã bàn giao đất trên thực địa cho bà C. Năm 2020 thửa đất được UBND huyện T nay là thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Hình thể và các cạnh thửa đất được thể hiện cụ thể trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và biên bản bàn giao đất.
Thửa đất số 700, tờ bản đồ số 31 mang tên ông Nguyễn Văn L có nguồn gốc là đất mua của địa phương sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng có diện tích là 296m². Trong quá trình sử dụng thửa đất nêu trên, ông L đã lấn chiếm của tập thể 96m² liền kề với phần diện tích 296m². Hành vi đất lấn chiếm đất của ông L đã bị UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền ngày 11/6/2014. Tuy nhiên, phần đất lấn chiếm phù hợp quy hoạch nên ngày 20/6/2014, tổ tư vấn xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã Đ đã xem xét để ông L được cấp giấy chứng nhận với 96m² đất nêu trên nhưng đến thời điểm hiện tại ông L chưa thực hiện nghĩa vụ nộp tiền với nhà nước do vậy diện tích đất này vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận. Gia đình ông L vẫn quản lý phần diện tích 96m² đất đó.
+ Tòa án tiến hành thẩm định, định giá đối với thửa đất đang có tranh chấp theo yêu cầu thẩm định, định giá của nguyên đơn. Quá trình thẩm định, định giá Tòa án tiến hành đo đạc thửa đất. Kết quả thẩm định thể hiện: Thửa đất số 860 có tứ cận: Phía Đông giáp đường giao thông, phía Tây giáp đất nhà ông L, phía Nam giáp đất nhà ông V, phía Bắc giáp đường giao thông. Thửa đất số 700 có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất nhà bà C, phía Tây giáp đường giao thông, phía Nam giáp đất nhà ông H, phía Bắc giáp đường giao thông. Tài sản trên phần đất giáp ranh giữa 2 thửa đất gồm; 01 cây xoài trồng năm 2015, một phần lán lợp tôn. Giá trị đất theo định giá là 30 triệu đồng/m².
Từ những nội dung trên, bản án sơ thẩm đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 155, 157, 165, 166, 228, 244, 264, 266, 271, 273 và 277 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 115, 158, 163, 164, 166, 169, 175, 176 Bộ luật dân sự; Điều 26, 100, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Trần Thị Đ phải trả bà Nguyễn Thị C 14,6m² đất lấn chiếm thuộc thửa đất số 860, tờ bản đồ số 31 tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 20, 1 có diện tích 11,2m² và các điểm 4, 5, 6, 7, 14, 15, 19, 20, 4 có diện tích 3,4m² trên bản kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 23/8/2024 (Kèm theo bản án là kết quả đo hiện trạng). Ông Nguyễn Văn L, bà Trần Thị Đ phải di dời 01 cây xoài, tháo dỡ toàn bộ phần mái tôn có diện tích 7,4m² lợp trên phần diện tích 14,6m² đất của bà Nguyễn Thị C để trả lại đất cho bà C.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bên đương sự vẫn giữ nguyên lời trình bày và các căn cứ nêu trên, không cung cấp chứng cứ mới tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Bà Nguyễn Thị C và vợ chồng ông Nguyễn Văn L bà Trần Thị Đ là người cùng thôn, có họ hàng. Năm 2018 tỉnh Bắc Ninh, huyện T và UBND xã Đ có chương trình đấu giá đất giãn dân tại thôn Đ để cho người dân được mua đất, bà C trúng thầu và được mua 1 lô đất với giá 10.050.000đ/1m². Sau khi trúng thầu bà C được xã Đ giao đất theo mô mốc. Năm 2020, thửa đất trúng thầu của bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng là thửa đất số 860, tờ bản đồ số 31, diện tích 111,7m². Sau đó bà C và ông L đã tự phân chia ranh giới bằng việc xây tường ngăn ở cạnh Tây thửa đất của bà C giáp với cạnh Đ1 thửa đất của ông L. Thời điểm xây bờ tường, ông L chỉ mốc giới cho bà xây chứ không phải địa chính xã chỉ ranh giới. Sau nhiều năm nhận đất, bà C vẫn chưa xây công trình trên đất mà vẫn là đất trống. Hiện tại, bà C có nhu cầu sử dụng đất nên đã nhờ đo đạc lại và thấy thửa đất của bà bị nhà ông L lấn chiếm chính là phần bờ tường mà ông L đã chỉ cho bà xây trước đây. Thời điểm khởi kiện, bà C đã thuê công ty Đ2 xác định diện tích đất bị ông L lấn chiếm là 12,8m². Nhưng theo kết quả đo đạc của Toà án khi tiến hành thẩm định, định giá thì diện tích lấn chiếm hiện tại là 14,6m². Bà C đề nghị Toà án buộc ông L, bà Đ phải trả bà 14,6m² đất đã lấn chiếm.
Toà án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C. Sau khi Toà án cấp sơ thẩm xử bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ, Hội đồng xét xử thấy:
Về nguồn gốc đất: Ngày 14/01/2020 bà Nguyễn Thị C được U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 860, tờ bản đồ số 31, diện tích 111,7 m², ở tại Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Bà C mua thửa đất theo hình thức đấu giá công khai của Nhà nước, có bản đồ quy hoạch tổng thể, bản đồ quy hoạch chi tiết, có quyết định công nhận trúng đấu giá thể hiện rõ vị trí, sơ đồ, diện tích, ranh giới, tứ cận thửa đất rõ ràng. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chưa có nhu cầu sử dụng nên bà C vẫn để đất trống, bà C tự xây tường bao giáp với phần đất của ông L là hàng xóm giáp ranh, khi xây tường bao không mời cơ quan chuyên đo đạc lại để xác định đủ diện tích được cấp. Đến năm 2023 sau khi có kết quả đo đạc bà mới phát hiện thiếu đất. Thửa đất số 700 của gia đình ông L được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận năm 2006, diện tích được cấp là 296m². Quá trình sử dụng đất gia đình ông L đã có hành vì lấn chiếm đất công, việc lấn chiếm đất công được địa phương lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 11/6/2014 bằng hình thức phạt tiền (thể hiện phần diện tích lấn chiếm là 96 m²) là phần đất giáp với thửa đất nhà bà Nguyễn Thị C. Phần diện tích đất lấn chiếm trên, ông L đang làm thủ tục đề nghị hợp thức hóa, chưa được chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện tại vẫn do gia đình ông L quản lý, sử dụng. Như vậy, thửa đất số 860, tờ bản đồ số 31 tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có nguồn gốc rõ ràng, ranh giới được xác định cụ thể.
Quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản làm việc ngày 08/8/2024 với chính quyền địa phương xác định: Phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc diện tích 96m² đất mà gia đình ông L đã lấn chiếm của địa phương. Việc lấn chiếm đã được lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hiện tại gia đình ông L đang làm thủ tục đề nghị hợp thức hóa phần diện tích đất lấn chiếm, địa phương đã xét duyệt và thông báo cho gia đình ông L nộp tiền thuế đất theo quy định tổng số là 106.176.000 đồng. Tuy nhiên, gia đình ông L mới nộp số tiền 50.000.000 đồng, ông L chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế đất nên chưa được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận được đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị C, địa phương đã tiến hành đo đạc lại xác định phần diện tích đất bà C bị thiếu nằm trong diện tích 96m² do gia đình ông L quản lý, sử dụng, địa phương đã dề nghị ông L trả lại đất nhưng ông L không đồng ý. Trong quá trình giải quyết, trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã cho xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc kiểm tra hiện trạng sử dụng của 2 thửa đất. Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc của công ty TNHH T1 thì sau khi chồng ghép phần ranh giới giữa hiện trạng sử dụng đất hiện do gia đình ông L, bà Đ quản lý sử dụng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho bà Nguyễn Thị C thì xác định được phần lán tôn do ông L xây dựng, cây xoài do ông L trồng trên phần diện tích đất lấn chiếm 96 m² (phần diện tích ông L chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa nộp hết tiền để hợp thức hóa đất) lấn sang thửa đất 680 của bà Nguyễn Thị C là 14,6m² đất.
Việc đo đạc hiện trạng và chồng ghép với bản đồ cấp giấy chứng nhận là chứng cứ quan trọng để xem xét giải quyết vụ án từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại cấp sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Văn L, bà Trần Thị Đ phải trả bà Nguyễn Thị C 14,6m² đất lấn chiếm thuộc thửa đất số 860, tờ bản đồ số 31 tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có căn cứ, đúng pháp luật. Ông L, bà Đ là người kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của ông L, bà Đ.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Trần Thị Đ phải trả bà Nguyễn Thị C 14,6m² đất lấn chiếm thuộc thửa đất số 860, tờ bản đồ số 31 tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 20, 1 có diện tích 11,2m² và các điểm 4, 5, 6, 7, 14, 15, 19, 20, 4 có diện tích 3,4m² trên bản kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 23/8/2024 (Kèm theo bản án là kết quả đo hiện trạng của bản án sơ thẩm số 04/2024/DSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông Nguyễn Văn L, bà Trần Thị Đ phải di dời 01 cây xoài, tháo dỡ toàn bộ phần mái tôn có diện tích 7,4m² lợp trên phần diện tích 14,6m² đất của bà Nguyễn Thị C để trả lại đất cho bà C.
-
Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông L và bà Đ đã nộp đủ 600.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001553 ngày 02/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Ninh |
Bản án số 61/2025/DSPT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 61/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị C yêu cầu giải quyết Tranh chấp Quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn L
