Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/DSPT
Ngày 09-4-2025
V/v Tranh chấp thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thắng;

Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản và bà Nguyễn Thị Thuỷ.

- Đại diện VKS tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên Trung cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Trong các ngày 13/02 và 09/4/2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2024/DSPT ngày 29/10/2024 về tranh chấp thừa kế tài sản. Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có kháng nghị và kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2024/QĐ-PT ngày 27/12/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Duy H (Đã chết);

Địa chỉ trước khi chết: 2 Đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn:

  1. Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1976;
  2. Địa chỉ: Tổ E, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

    (có mặt ngày 13/02/2025, vắng mặt ngày 09/4/2025).

    Người đại diện theo uỷ quyền của chị T: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1956; (có mặt).

    Địa chỉ: TDP C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Anh Trần Mạnh P, sinh năm 1978;
  4. Địa chỉ: 2 Đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

  5. Anh Trần Trung D, sinh năm 1981;
  6. Địa chỉ: 2 Đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

    Người đại diện theo uỷ quyền của anh P và anh D: Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1976;

    Địa chỉ: Tổ E, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

2. Bị đơn: Ông Trần Xuân H2, sinh năm 1963; (có mặt).

Địa chỉ: TDP C, phương Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

1

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Xuân H2: Ông Nguyễn Đức N, ông Nguyễn Giang T1 và ông Đoàn Văn C – Đều là Luật sư thuộc Công ty L4. Địa chỉ: Tầng C, số B N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. (Có mặt ông N và ông C, vắng mặt ông T1).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Duy L, sinh năm 1952;
  2. Địa chỉ: B, đường H, Khu A, T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Duy L: Ông Bùi Văn L1 - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

  3. Bà Trần Thị Hồng K, sinh năm 1960;
  4. Địa chỉ: B Đ, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ; (vắng mặt).

    Người đại diện theo uỷ quyền của bà K: Ông Trần Duy L, sinh năm 1952; địa chỉ: B, đường H, Khu A, T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt) và ông Trần Duy S, sinh năm 1966; địa chỉ: 3, đường số E, phường G, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  5. Ông Trần Duy S, sinh năm 1966; (vắng mặt).
  6. Địa chỉ: 3, đường số E, phường G, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1968; (có mặt).
  8. Địa chỉ: Số nhà B, xóm Đ, xã H, huyện S, TP Hà Nội.

  9. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1956; (có mặt).
  10. Anh Trần Mạnh T3, sinh năm 1991; (có mặt).
  11. Chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1991; (vắng mặt).
  12. Bà Đỗ Thị O, sinh năm 1964; (vắng mặt).
  13. Ông Đỗ Văn T4, sinh năm 1973; (vắng mặt).
  14. Cùng địa chỉ: TDP C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, ông Trần Duy H trình bày: Bố ông là Trần Ngọc H3, sinh năm 1929 (chết năm 1972), mẹ ông là Trần Thị L2, sinh năm 1929 (chết năm 2010). Các cụ sinh được 7 anh em, gồm: Ông Trần Duy H, sinh năm 1952, ông Trần Duy L, sinh năm 1952, bà Trần Thị H1, sinh năm 1958, bà Trần Thị Hồng K, sinh năm 1960, ông Trần Xuân H2, sinh năm 1963, ông Trần Duy S, sinh năm 1966, bà Trần Thị T2, sinh năm 1968. Khi bố mẹ ông chết không để lại di chúc. Tài sản các cụ để lại gồm:

  1. 5 gian nhà cấp 4 bán kiên cố, xây dựng trên thửa đất 983, tờ bản đồ 88;
  2. Quyền sử dụng 1.920m² đất tại thửa đất 983, tờ bản đồ 88, trong đó có 1.200m² đất ở và 720m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm;
  3. Diện tích đất trồng màu sứ đồng La Cú 1.040m² (thửa 982, tờ bản đồ 88).
  4. Quyền sử dụng 400m² đất phần trăm nhà nước giao tại thửa số 657, tờ bản đồ số 87;
  5. Quyền sử dụng 2.385m² đất lúa, nằm trong tổng diện tích 3.650m².

2

Các thửa đất trên đều đã được UBND huyện P (nay là thành phố P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), số seri: C 350659, số vào sổ 308/QSDĐ cấp ngày 31/6/1993 mang tên Trần Văn H4 (Trần Xuân H2).

  1. Quyền sử dụng 972,8m² đất đồi bãi chưa được cấp GCNQSDĐ tại thửa 787, tờ bản đồ số 88, sau chùa L5;

Năm 1993 nhà nước có chủ trương cấp GCNQSDĐ cho các hộ, thời điểm đó mẹ ông không ủy quyền cho ông H2 đi kê khai, còn anh em ông đi công tác và làm ăn xa không có ở nhà, nên ông H2 đã tự đi kê khai làm thủ tục để cấp toàn bộ các thửa đất là phần tài sản của bố mẹ ông tạo lập nêu trên. Căn cứ theo quy định pháp luật, nay ông đề nghị Tòa án chia đều cho 6 anh chị em ông là Trần Duy H, Trần Duy L, Trần Thị H1, Trần Thị Hồng K, Trần Duy S, Trần Thị T2. Riêng ông H2 không được chia vì năm 1984, mẹ ông cho ông H2 ở riêng và đã chia cho ông H2 1.040 m² đất tại sứ đồng La Cú, thửa đất số 982, tờ bản đồ số 88;

Ông H đề nghị Toà án chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của cụ Trần Ngọc H3, cụ Trần Thị L2 để lại gồm: 05 gian nhà cấp 4 gắn liền quyền sử dụng đất tại thửa 983, tờ bản đồ 88 với diện tích 1.920 m²; thửa 787, tờ bản đồ số 88, diện tích hiện trạng là 958,9m². Ông Trần Duy L nhận uỷ quyền rút yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất phần trăm 400m2 tại thửa đất số 657, tờ bản đồ số 87; diện tích đất cấy lúa được giao là 2.385m², nằm trong tổng diện tích 3.650m² theo GCNQSDĐ số vào sổ 308/QSDĐ cấp ngày 31/6/1993 mang tên Trần Văn H4 (ngày 29/7/2020 đính chính Trần Xuân H2).

Bị đơn ông Trần Xuân H2 trình bày: Về quan hệ gia đình và lịch sử nguồn gốc đất như nguyên đơn trình bày là đúng. Năm 1993, Nhà nước có chủ trương giao đất cho hộ gia đình, lúc đó mẹ ông đã 65 tuổi già yếu giao cho ông đại diện hộ gia đình kê khai đứng tên làm bìa đỏ, anh chị em đều biết nhưng không ai có ý kiến gì. Khi cụ L2 còn sống ông là người ở cùng và chăm sóc cụ L2, khi cụ L2 chết ông là người trông nom, quản lý sử dụng các thửa đất này. Thửa 787 là do ông khai phá và đã hiến một phần đất cho chùa L5, năm 2021 ông mới đo đạc để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, nhưng chưa được cấp thì xảy ra tranh chấp; thửa 982, tờ bản đồ số 88, diện tích 1.040 m² đất canh tác là do bố mẹ vợ ông là ông Đỗ Văn Á, bà Ngô Thị T5 tặng cho riêng vợ chồng ông, sau đó đã sang tên cho vợ chồng ông Đỗ Văn T4, bà Nguyễn Thị T6.

Nay ông không nhất trí chia thừa kế. Từ đó đến nay ông vẫn sử dụng ổn định đúng phần diện tích đất đã được giao trong GCNQSDĐ số C 350659 diện tích 7.060 m² tại 17 thửa đất, trong đó có thửa 983, tờ bản đồ số 88, diện tích 1.920 m² đất thổ cư, sử dụng lâu dài. Đối với thửa 982, tờ bản đồ số 88, diện tích 1.040 m² đất canh tác tuy được vào bìa của ông những thực chất đã được chuyển nhượng sang tên cho ông Đỗ Văn T4 đang quản lý, sử dụng.

Năm 2019, con trai ông là anh Trần Mạnh T3 đã xây dựng gia đình, vợ chồng ông đã làm thủ tục tặng cho vợ chồng anh T3 thửa đất số 983, tờ bản đồ số 88, diện tích 1.920 m² (đất ở tại nông thôn 1200 m², đất trồng cây lâu năm 720 m²).

Nay ông H có đơn khởi kiện yêu cầu ông chia thừa kế theo pháp luật trả lại thửa đất số 983, 982 tờ bản đồ số 88 ông không đồng ý.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy L3, bà Trần Thị Hồng K, bà Trần Thị T2, ông Trần Duy S và bà Trần Thị H1 đều trình bày: Nhất trí với quan điểm trình bày của nguyên đơn ông Trần Duy H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định

3

pháp luật và đề nghị được nhận kỷ phần là quyền sử dụng đất; bà H1 xác định khi ông H2 kê khai cấp GCNQSDĐ không được sự đồng ý của anh em trong gia đình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị O trình bày: Bà là vợ của ông Trần Xuân H2, nhất trí với quan điểm trình bày của bị đơn ông Trần Xuân H2. Không có bổ sung gì.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Mạnh T3, chị Đỗ Thị N1 trình bày: Nhất trí với quan điểm trình bày của bị đơn ông Trần Xuân H2. Năm 2019, khi anh T3 xây dựng gia đình với chị N1, anh chị được bố mẹ anh T3 làm thủ tục tặng cho thửa đất số 983, tờ bản đồ số 88, diện tích 1.920 m², anh chị đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCNQSDĐ số CS 571516, ngày 22/10/2019. Từ đó anh T3, chị N1 đã về ở trên thửa đất này, cải tạo lại nhà xây cấp 4 để ở, xây dựng mới các công trình phụ, sân, cổng, tường rào và trồng nhiều cây cối, hoa màu trên đất. Nay anh chị không nhất trí chia di sản thừa kế theo yêu cầu của ông H. Trường hợp Toà án chia thừa kế theo pháp luật, anh chị đề nghị được tính công sức bảo quản, tôn tạo tài sản và bồi thường tài sản đã xây dựng cải tạo trên đất theo quy định của pháp luật. Anh T3 đề nghị Toà án xem xét giao cho anh được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất có nhà mà anh đã cải tạo xây dựng để ở, vì anh được ông H2 tặng cho là ngay tình và đây là nơi ở duy nhất của gia đình anh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T4 trình bày: Thửa 982, tờ bản đồ số 88, diện tích 1.040m² đất canh tác, trước năm 1996 bố mẹ ông có chia cho con gái là Đỗ Thị O vợ ông H2 làm nhà để ở và làm gạch, làm được mấy năm ông H2, bà O không làm nữa và bỏ hoang, đến năm 1995 bố mẹ ông lấy lại và cho ông quản lý sử dụng từ năm 1996 và đã được UBND huyện P (nay là thành phố P) cấp GCNQSDĐ mang tên vợ chồng ông Đỗ Văn T4, bà Nguyễn Thị T6.

Tài liệu Toà án thu thập được là GCNQSDĐ do UBND huyện P cấp cho hộ ông Đỗ Văn T4, số AK 968690 ngày 18/6/2008, diện tích 2.960m² đất ở nông thôn và đất vườn tại thửa 982, tờ bản đồ 88. Nguồn gốc: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DSST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên đã quyết định:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đối với bị đơn ông Trần Xuân H2.
  2. Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật như sau:
  3. * Phân chia tại thửa 983, tờ bản đồ số 8:

    Ông Trần Duy H quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 1 diện tích 269,7m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 148.335.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

    Ông Trần Duy L quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 2 diện tích 168,7m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 92.785.000 đồng (Chín mươi hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn đồng)

4

  1. Ông Trần Duy S quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 3 diện tích 168,6m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 92.730.000 đồng (Chín mươi hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
  2. Bà Trần Thị H1 quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 4 diện tích 209,0m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 114.950.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng)
  3. Ông Trần Xuân H2 quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 5 diện tích 208,4m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 114.620.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng)
  4. Bà Trần Thị Hồng K quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 6 diện tích 210,1m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 115.555.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
  5. Bà Trần Thị T2 quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 7 diện tích 271,7m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 149.435.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

* Phân chia tại thửa 787, tờ bản đồ số 8:

  1. Ông Trần Duy H quản lý sử dụng tại thửa 787 là lô số 1 diện tích 136,9m² x 69.000 đồng/1m² trị giá = 9.446.100 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm đồng)
  2. Ông Trần Duy L quản lý sử dụng tại thửa 787 là lô số 2 diện tích 137,0m² x 69.000 đồng/1m² trị giá = 9.446.100 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm đồng)
  3. Ông Trần Duy S quản lý sử dụng tại thửa 787 là lô số 3 diện tích 136,9m² x 69.000 đồng/1m² trị giá = 9.446.100 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm đồng)
  4. Bà Trần Thị H1 quản lý sử dụng tại thửa 787 là lô số 4 diện tích 136,9m² x 69.000 đồng/1m² trị giá = 9.446.100 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm đồng)
  5. Ông Trần Xuân H2 quản lý sử dụng tại thửa 983 là lô số 5 diện tích 136,9m² x 550.000 đồng/1m² trị giá = 9.446.100 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm đồng)
  6. Bà Trần Thị Hồng K quản lý sử dụng tại thửa 787 là lô số 6 diện tích 136,9m² x 69.000 đồng/1m² trị giá = 9.446.100 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm đồng)
  7. Bà Trần Thị T2 quản lý sử dụng tại thửa 787 là lô số 7 diện tích 136,9m² x 69.000 đồng/1m² trị giá = 9.446.100 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm đồng)

(Có sơ đồ hiện trạng phân chia kèm theo)

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu 400m², tại thửa đất số 657, tờ bản đồ số 87, diện tích đất cấy lúa được giao là 2385m², tại GCNQSDĐ số vào sổ 308/QSDĐ cấp ngày 31/6/1993 cấp cho ông Trần Xuân H2.

5

  1. Căn cứ Điều 133 Bộ luật dân sự; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H2 và anh T3 vô hiệu, đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho anh T3, chị N1 ngày 22/10/2019.
  2. Về án phí: Miễn án dân sự sơ thẩm cho ông Trần Duy H, ông Trần Duy L, bà Trần Thị H1, ông Trần Xuân H2.

Các đương sự phải chịu án phí theo giá ngạch, giá trị tài sản được hưởng nộp ngân sách nhà nước.

  • - Ông Trần Duy S phải chịu án là 5.108.805 đồng (Năm triệu một trăm linh tám nghìn tám trăm linh năm đồng).
  • - Bà Trần Thị Hồng K phải chịu án là 6.250.055 đồng (Sáu triệu hai trăm năm nghìn không trăm năm lăm đồng).
  • - Bà Trần Thị T2 phải chịu án là 7.944.055 đồng (Bảy triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn không trăm năm lăm đồng).

Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên có văn bản kháng nghị, các đương sự có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, cụ thể:

Quyết định Kháng nghị số 109/QĐ-VKS-DS ngày 11/6/2024. Nội dung kháng nghị huỷ bản án DSST nêu trên với các lý do:

  1. Phân chia di sản không đúng quy định làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, cụ thể:
    • - Không tính công sức duy trì, tôn tạo tài sản cho người quản lý di sản.
    • - Chia thừa kế cho các kỷ phần bằng hiện vật (QSD đất) nhưng không đều, giá trị không bằng nhau.
    • - Xác định không đúng diện tích đất là di sản thừa kế. Chia các thửa đất cho các kỷ phần không có mốc giới. Không xác định diện tích, mốc giới đường đi chung vào các thửa đất đã chia, dẫn đến bản án tuyên không thể thi hành được.
  2. Xác định giá trị đất là di sản không đúng theo giá các loại đất, dẫn đến ảnh hưởng quyền lợi của các đương sự. (Diện tích thực tế là 1.726,1m² trong đó đất thổ cư 1.200m². Giá đất thổ cư 550.000/1m². Đất cây lâu năm cùng thửa =1/2 giá trị đất thổ cư nhưng Toà án sơ thẩm tính hết bằng giá trị đất thổ cư).
  3. Tính sai án phí: Vì xác định giá trị đất không đúng nên tính án phí không đúng.

Tại phiên toà phúc thẩm, Đại diện VKS nhân dân tỉnh T bổ sung kháng nghị, xác định cấp sơ thẩm chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với thửa đất 982. Đề nghị Toà án phúc thẩm chia thừa kế thửa đất 982 theo pháp luật.

Các đương sự kháng cáo:

  • - Ngày 16/5/2024, bị đơn là ông Trần Xuân H2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Mạnh T3 kháng cáo: Đề nghị huỷ bản án vì cho rằng Toà án sơ thẩm xử sai thẩm quyền, áp dụng sai điều luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại phiên toà ông H2 và anh T3 đã sửa đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Toà án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng được tính công sức duy trì, tôn tạo tài sản và bồi thường giá trị tài sản trên đất tại thửa 983 cho anh T3.
  • - Ngày 24/5/2024, ông Trần Duy L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời đại diện cho nguyên đơn kháng cáo: Đề nghị xử lại vì cho rằng Toà án sơ thẩm chia không công bằng, chưa chia thửa 982. Tại phiên toà ông L để nghị chia thửa 983 thành 7

6

phần và đồng ý chia cho anh T3 01 kỷ phần, không đồng ý chia cho ông H2. Đề nghị chia thừa kế thửa 982 theo pháp luật.

Ngày 25/6/2024 nguyên đơn là ông Trần Duy H chết. Ông H có vợ là bà Vũ Thị Thu H5 đã ly hôn theo Quyết định số 64/2019/QÐST-HNGĐ ngày 22/7/2019 của Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ. Hàng thừa kế thứ nhất của ông H gồm có 03 người con đẻ gồm: Chị Trần Thị Thanh T, anh Trần Mạnh P và anh Trần Trung D. Trong các bản khai tại Toà án, chị T, anh P và anh D đều xác định ông Trần Duy H đã chết và họ nhất trí kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H để tiếp tục tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn cũng nhất trí theo yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng chấp nhận kháng cáo của ông H2 và kháng cáo của anh T3. Tính công sức duy trì, bảo quản di sản cho ông H2, bà O, anh T3, chị N1 bằng một kỷ phần tại thửa 983, còn lại chia đều cho các đồng thừa kế bằng hiện vật theo sơ đồ phân chia kèm theo biên bản thẩm định ngày 07/3/2025 của Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, xác định 1/2 thửa đất 982 đã được cụ L2 cho tặng ông H2 nên không còn là di sản thừa kế, 1/2 diện tích đất còn lại là di sản của cụ H3, Giao quyền sử dụng thửa 787 và phần giá trị còn lại của thửa 982 cho ông H2 và buộc ông H2 trích chia giá trị cho các kỷ phần còn lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thủ tục kháng cáo: Ông Trần Xuân H2, anh Trần Mạnh T3, ông Trần Duy L làm đơn kháng cáo có nội dung, hình thức đúng quy định và trong hạn luật định, ông L, ông H2 là người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, anh T3 đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.2]. Về thủ tục kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định kháng nghị trong thời hạn kháng nghị, thông báo việc kháng nghị theo quy định, nội dung kháng khị đối với bản án sơ thẩm trong phạm vi theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.3]. Về tư cách tham gia tố tụng: Toà án sơ thẩm có đưa UBND thành phố P và UBND phường Đ, thành phố P vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Toà án nhân dân tối cao thì: “...khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp GCNQSDĐ thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng ...”. Do đây là vụ án tranh chấp về thừa kế có liên quan đến hợp đồng tặng cho QSD đất, cấp sơ thẩm đưa các cơ quan này vào

7

tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không cần thiết.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hàng thừa kế và diện thừa kế: Tại Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm các đương sự đều xác định hàng thừa kế và diện thừa kế được hưởng là 07 người con đẻ của cụ H3 và cụ L2, gồm: Ông Trần Duy H, ông Trần Duy L, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị Hồng K, ông Trần Duy S, ông Trần Xuân H2 và bà Trần Thị T2 như Toà án cấp sơ thẩm xác định là đúng quy định của pháp luật. Ông Trần Duy H là nguyên đơn có kháng cáo, chết trước khi xét xử phúc thẩm do vậy các con của ông H là chị T, anh P, anh D là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H.

[2.2]. Về xác định di sản thừa kế của cụ H3, cụ L2:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong hồ sơ, nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn xác định tài sản của các cụ để lại gồm:

  1. 05 gian nhà cấp 4 bán kiên cố, xây dựng trên thửa đất 983, tờ bản đồ 88;
  2. Quyền sử dụng 1.920m² đất tại thửa đất 983, tờ bản đồ 88, trong đó có 1.200m² đất ở và 720m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm;
  3. Diện tích đất trồng màu sứ đồng La Cú 1.040m² (thửa 982, tờ bản đồ 88).
  4. Quyền sử dụng 400m² đất phần trăm nhà nước giao tại thửa số 657, tờ bản đồ số 87;
  5. Quyền sử dụng 2.385m² đất lúa, nằm trong tổng diện tích 3,650 m².

Các thửa đất trên đều đã được UBND huyện P (nay là thành phố P) cấp GCNQSDĐ, số seri: C 350659, số vào sổ 308/QSDĐ cấp ngày 31/6/1993 mang tên Trần Văn H4 (Trần Xuân H2).

  1. Quyền sử dụng 972,8m² đất đồi bãi chưa được cấp GCNQSDĐ tại thửa 787, tờ bản đồ số 88, sau chùa L5;

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, đại diện nguyên đơn đã rút yêu cầu chia thừa kế đối với căn nhà cấp 4 trên thửa 983 do đã cũ hỏng; quyền sử dụng 400m² tại thửa 657, tờ bản đồ số 87 và 2.385m², nằm trong tổng diện tích 3.650m² trong GCNQSDĐ, số seri: C 350659, số vào sổ 308/QSDĐ cấp ngày 31/6/1993 mang tên Trần Văn H4. Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng 03 thửa đất gồm: 1.920m² đất tại thửa đất 983, tờ bản đồ 88, trong đó có 1.200m² đất ở và 720m² đất, nông nghiệp trồng cây lâu năm; 1.040m² tại thửa 982, tờ bản đồ 88 và 972,8m² đất đồi bãi chưa được cấp GCNQSDĐ tại thửa 787, tờ bản đồ số 88, sau chùa L6 Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn xác định ông H4 đã được cụ L2 chia cho thửa thửa 982, tờ bản đồ 88 diện tích 1.040m² để làm nhà ra ở riêng từ năm 1984 sau đó ông H4 đã bán cho ông Đỗ Văn T4 sử dụng từ năm 1996, do đó ông H4 không được chia thừa kế là đất tại các thửa 983 và 787 nữa, đề nghị Toà án chia làm 6 phần cho các anh chị em trừ ông H4.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Về nguồn gốc đất, các đương sự đều thừa nhận, do cuộc sống khó khăn nên năm 1960 cụ H3 và cụ L2 cùng các con trở về quê ngoại (P, Thái Nguyên) để lập nghiệp sinh sống, tại đây các cụ đã khai hoang và sử dụng đất để làm nhà ở và canh tác trồng lúa, trồng màu. Năm 1972 cụ H3 chết, năm 1993 ông H4 là lao động chính trong hộ gia đình đi kê khai cấp GCNQSDĐ lần đầu trên cơ sở đất ở hiện có và đất nông nghiệp Hợp tác xã chia theo định suất khẩu lao động, khi đó cụ L2 đã 65

8

tuổi (hết tuổi lao động được coi là lao động phụ). Ngày 31/6/1993 ông Tần Văn H6 (đã được đính chính là Trần Xuân H2) được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ số seri: C 350659, số vào sổ 308/QSDĐ, theo đó ông H2 được quyền sử dụng 17 thửa đất với tổng diện tích 7.060m² (nếu cộng lần lượt 17 thửa đất thì diện tích tổng là 7.010m²). Trong đó có thửa 983, tờ bản đồ 88 diện tích 1.920m² đất “thổ cư” được sử dụng lâu dài, còn lại là 16 thửa đất “canh tác” thời hạn sử dụng 10 năm (trong đó có thửa 982 tờ bản đồ 88, diện tích 1.040m²). Ngày 30/6/2009 ông H2 được UBND huyện P quyết định điều chỉnh cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa đất 983, GCNQSDĐ mới số vào sổ 2021-QSDD/9836/QĐ-UBND ngày 30/6/2009, theo đó thửa đất 983 có 1.200m² đất thổ cư và 720m² đất trồng cây lâu năm. Ngoài ra ông H2 còn sử dụng thửa 787 sát cạnh chùa L5 diện tích 972,8m² đất nông nghiệp trồng cây hàng năm chưa được cấp GCNQSDĐ (đang làm hồ sơ cấp GCNQSDĐ thì xảy ra tranh chấp). Theo bản đồ địa chính thì các thửa đất nêu trên đều thuộc tờ bản đồ số 8 xóm C, phường Đ, thành phố P, thửa 787 được chỉnh lý thành thửa số 1799.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 03 thửa đất 983, 982 và 787 tờ bản đồ 88 (nay là các thửa 983, 982, 1799 tờ bản đồ số 8). Đối với tài sản trên đất và các thửa đất khác đại diện nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết. Cấp sơ thẩm xác định 03 thửa đất trên là di sản thừa kế và đã chia thừa kế 2 thửa đất 983 và 787 cho 7 kỷ phần, nhưng không xem xét đến yêu cầu chia thừa kế thửa 982 là thiếu sót. Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát bổ sung kháng nghị đối vợi nội dung này là có cơ sở chấp nhận.

[2.3]. Chia di sản thừa kế

Tại phiên toà các đương sự đều thừa nhận 03 thửa đất nêu trên là di sản thừa kế của các cụ, do các cụ chết không để lại di chúc nên cần phải chia theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy:

- Đối với thửa 982, tờ bản đồ 88 (nay là tờ bản đồ số 8) diện tích 1.040m²: Sau khi ông H2 lấy vợ, cụ L2 đã cho ông H2 thửa đất để làm nhà ra ở riêng từ năm 1984, năm 1996 ông H2 đã bán cho ông Đỗ Văn T4 sử dụng (việc chuyển nhượng không lập văn bản do là anh em trong gia đình, ông T4 là em trai ruột bà O vợ ông H2), ông T4 đã xây nhà ở ổn định từ đó cho đến nay không có tranh chấp, năm 2008 ông T4 đã kê khai và được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ số AK 968690 ngày 18/6/2008, diện tích 2.960m² đất ở nông thôn và đất vườn, năm 2010 cụ L2 chết. Như vậy phần diện tích đất tại thửa 982 đã được cụ L2 định đoạt cho ông H2 từ khi cụ L2 còn sống, tuy việc cho tặng không được lập thành văn bản nhưng đều được các anh chị em trong gia đình thừa nhận và không có tranh chấp.

Quyền sử dụng đất tại thửa 982 là tài sản chung của cụ H3 và cụ L2, khi cụ H3 chết, cụ L2 chỉ có quyền định đoạt 1/2 tài sản này, 1/2 tài sản còn lại là di sản của cụ H3, cụ L2 không có quyền định đoạt nhưng đã cho ông H2 nên việc cho tặng phần tài sản này bị vô hiệu. Do ông T4 đã nhận chuyển nhượng từ ông H2 ngay tình nên cần bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình, đảm bảo tính ổn định về quyền sử dụng đất mà ông T4 đã được nhà nước cấp.

Thửa 982 theo GCNQSDĐ ông H2 được cấp là đất BHK (Đất bằng trồng cây hàng năm khác), theo biên bản định giá ngày 07/3/2025 có giá trị 79.000 đồng/1m², như vậy thửa đất có giá trị là: (79.000 đồng x 1.040m²) = 82.160.000 đồng, cụ Luật

9

được quyền định đoạt 1/2 diện tích đất tương ứng với giá trị 41.080.000 đồng, 1/2 diện tích đất còn lại (520m²) tương ứng với giá trị 41.080.000 đồng là di sản của cụ H3 cần được chia đều cho 07 người con, mỗi kỷ phần được hưởng giá trị = 5.868.000 đồng (làm tròn). Do ông H2 đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông T4 nên cần buộc ông H2 thanh toán cho 6 người còn lại là phù hợp.

- Đối với thửa 787 tờ bản đồ số 8 diện tích theo bản đồ địa chính 1.230m² đất BHK, hiện nay chưa được cấp GCNQSDĐ. Theo kết quả đo vẽ thẩm định ngày 07/3/2025 diện tích hiện trạng là 967,2m² (ông H2 đã hiến một phần đất cho Chùa L5). Kết quả thẩm định xác định thửa đất không có đường đi vào, trên đất không có công trình xây dựng, chỉ có một số cây Keo do ông H2 mới trồng, chiều cao trung bình 30 – 40cm. Đây là di sản của các cụ để lại nay cần chia theo pháp luật là có cơ sở. Tại cấp sơ thẩm đã thẩm định đo vẽ chia thửa đất thành 7 phần và chia cho 7 người con là chưa phù hợp, bởi lẽ thửa đất này không có đường đi vào, hiện nay ông H2 muốn đi vào thửa đất để sử dụng phải đi nhờ qua thửa đất khác; hiện nay ngoài ông H2 và bà H1, các đồng thừa kế khác đều ở xa, không có hộ khẩu thường trú tại địa phương (Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P) và không làm nông nghiệp; thửa đất này hiện chưa được cấp GCNQSDĐ. Như vậy, nếu chia bằng hiện vật như cấp sơ thẩm thì các đồng thừa kế sẽ gặp khó khăn trong việc sử dụng đất.

Theo biên bản định giá ngày 07/3/2025 giá trị thửa đất theo hiện trạng là (967,2m² x 79.000 đồng) = 76.408.800 đồng. Mỗi kỷ phần sẽ được hưởng là (76.408.800 : 7) = 10.915.000 đồng (làm tròn). Cấp phúc thẩm thấy cần tiếp tục giao thửa đất này cho ông H2 sử dụng và có nghĩa vụ trích chia giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế còn lại là phù hợp.

- Đối với thửa 983 tờ bản đồ 88 (bản đồ địa chính là thừa số 8) diện tích theo GCNQSDĐ là 1.920m²: Theo kết quả thẩm định và đo vẽ xác định diện tích hiện trạng là 1.736,5m² trong đó có 1.200m² đất thổ cư, còn lại là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm cùng thửa. Trên thửa đất hiện có tài sản của vợ chồng anh Trần Mạnh T3 hình thành từ năm 2019, tại cấp sơ thẩm chưa xem xét đến. Theo biên bản thẩm định ngày 07/3/2025 xác định trên thửa đất 983 có một số công trình xây dựng và nhiều cây trồng đã được kiểm đếm thuộc sở hữu của vợ chồng anh T3, chị N1. Tổng giá trị tài sản theo biên bản định giá ngày 07/3/2025 và văn bản đính chính cùng ngày của Hội đồng định giá là: 203.177.537 đồng. Tại phiên toà, anh T3 xác định khi trả đất có thể di dời công trình xây dựng và cây trồng được nên không yêu cầu các đồng thừa kế phải hỗ trợ, bồi thường thiệt hại, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Cấp sơ thẩm khi chia thừa kế không xem xét tính công sức duy trì, bảo quản di sản cho những người quản lý di sản là thiếu sót. Các tài liệu trong hồ sơ thể hiện, từ năm 2010 sau khi cụ Luật chết, các đồng thừa kế đều ở xa và có cuộc sống riêng, nhà và đất vẫn do vợ chồng ông H2, bà O quản lý, trồng coi, đến năm 2019 vợ chồng anh T3, chị N1 đến ở và tôn tạo, bảo quản di sản. Khi giải quyết cần phải xem xét trích chia công sức tương xứng cho họ. Tại phiên toà ông H2 và anh T3 đề nghị Toà án tính chia công sức duy trì bảo quản di sản cho gia đình bằng quyền sử dụng đất tương ứng một kỷ phần tại thửa 983 và đề nghị được chia cho sử dụng đất tại vị trí có nhà xây mà anh T3 đã cải tạo để đảm bảo cuộc sống ổn định cho vợ chồng anh T3 và hạn chế thiệt hại khi phải thảo dỡ trả đất cho các đồng thừa kế khác. Hội đồng xét xử thấy đề nghị của bị đơn và anh T3 là phù hợp, bởi đây là nơi ở duy nhất của gia đình anh T3.

10

Cấp sơ thẩm khi chia đất cho các kỷ phần đã không xác định mốc giới, ranh giới giữa các thửa đất và lối đi chung dẫn đến bản án khó thi hành. Cấp phúc thẩm căn cứ hiện trạng thực tế sử dụng đất theo sơ đồ phân chia thửa đất kèm theo biên bản thẩm định ngày 07/3/2025 của Công ty cổ phần T7, chia thửa đất thành 8 phần có đánh số thứ tự từ lô số 1 đến lô số 8 sau khi đã trừ diện tích đường đi chung, do tổng diện tích đất thổ cư có 1.200m² nên mỗi thửa đất sẽ được chia trung bình 150m² đất thổ cư còn lại là đất vườn liền thửa, những thửa chia không đủ 150m² thì chia toàn bộ là đất thổ cư, cụ thể:

  • - Vị trí số 1 được đánh số mốc giới từ 6-8-9-43-42-6 diện tích 149,5m² đất thổ cư. Phần diện tích này có phần cổng, tường rào bao quanh và một phần nhà xây và sân, như đã phân tích ở trên phần đất này cần trích chia công sức duy trì, bảo quản di sản cho ông H2, bà O, anh T3 và chị N1 được quyền sử dụng tương ứng bằng 01 kỷ phần;
  • - Vị trí số 2 được đánh số mốc giới từ 42-43-11-12-44-45-41-5-42 diện tích 149,5m² đất thổ cư. Phần diện tích đất này có một phần tường rào phía trước giáp đường bê tông và phần nhà xây và sân còn lại. Để thuận tiện cho gia đình ông H2 và anh T3 sử dụng, tránh thiệt hại về tài sản khi phải phá dỡ và di dời nên cần chia thừa kế phần đất này cho ông H2 được sử dụng;
  • Thực tế, ông H2 cũng đã cho tặng anh T3, chị N1 toàn bộ thửa 983 từ năm 2019 và được Nhà nước công nhận, nên phần diện tích của các lô số 1 và số 2 giữa ông H2, bà O và vợ chồng anh T3 có thể thống nhất để giao cho vợ chồng anh T3 tiếp tục được sử dụng và làm thủ tục tặng cho, cấp lại GCNQSDĐ.
  • - Vị trí số 3 được đánh số mốc giới từ 41-45-46-40-41 diện tích 149,5m² đất thổ cư. Phần đất này có một phần tường rào phía trước giáp đường bê tông cần chia thừa kế cho ông Trần Duy H.
  • - Vị trí số 4 được đánh số mốc giới từ 40-46-47-39-40 diện tích 149,6m² đất thổ cư. Phần đất này có một phần tường rào phía trước giáp đường bê tông cần chia thừa kế cho ông Trần Duy L.
  • Theo nguyện vọng của ông H và ý kiến của ông L muốn chia thừa kế để sau đó không ở mà làm nhà thờ họ, việc chia cho ông H và ông L 02 lô đất giáp nhau, giáp đường bê tông sẽ thuận lợi cho nguyện vọng xây nhà thờ họ.
  • - Vị trí số 5 được đánh số mốc giới từ 47-44-12-13-48-47 diện tích 216,4m² trong đó có 150m² đất thổ cư, 66,4m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, cần chia thừa kế cho bà Trần Thị H1.
  • - Vị trí số 6 được đánh số từ 48-13-14-15-16-17-49-48 diện tích 216,5m² trong đó có 150m² đất thổ cư, 66,5m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, cần chia thừa kế cho bà Trần Thị Hồng K.
  • - Vị trí số 7 được đánh số mốc giới từ 49-17-18-50-49 diện tích 216,4m² trong đó có 150m² đất thổ cư, 66,4m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, cần chia thừa kế cho ông Trần Duy S.
  • - Vị trí số 8 được đánh số mốc giới từ 50-18-19-36-37-26-27-28-29-30-50 diện tích 241,1m² trong đó có 151,9m² đất thổ cư, 89,2m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, cần chia thừa kế cho bà Trần Thị T2.

11

- Xác định đường đi chung cho các thửa đất đã chia (số 4,5,6,7,8) lấy từ diện tích đất nông nghiệp trồng cây lâu năm của thửa 983 có diện tích 248m² có vị trí mốc giới được đánh số từ 39-30-31-33-34-35-36-37-38-1-39.

Căn cứ kết quả định giá ngày 07/3/2025 xác định giá đất thổ cư tại vị trí thửa đất có giá là 750.000 đồng/1m². Giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm có giá 79.000 đồng/1m². Như vậy, giá trị 04 lô đất của các vị trí từ số 1 đến số 4 có giá là 149,5 x 750.000 đồng = 112.125.000 đồng (lô số 4 149,6m² giá trị cao hơn không đáng kể). Các thửa đất đã chia từ lô số 5 đến lô S đều có vị trí ở phía trong, không tiếp giáp đường bê tông, ngoài đất thổ cư còn có đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, mặc dù diện tích lớn hơn và có thêm diện tích đất đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, tuy nhiên do các thửa đất ở vị trí không thuận lợi nên giá trị thực tế ngang bằng nhau và ngang bằng với giá trị các lô đất tiếp giáp đường dân sinh (các lô sô 1 đến lô số 4). Tại phiên toà các đương sự đề nghị được chia bằng hiện vật là quyền sử dụng đất và xác định các lô đất có giá trị thực tế ngang nhau do vậy cần tôn trọng ý kiến của các đương sự xác định 8 lô đất đã phân chia nêu trên đều có giá là 112.125.000 đồng.

Như vậy, mỗi kỷ phần sẽ được hưởng giá trị là 128.908.000 đồng, bao gồm giá trị quyền sử dụng của cả 03 thửa đất (thửa 982 = 5.868.000 đồng; thửa 787 = 10.915.000 đồng, thửa 983 = 112.125.000 đồng).

[3]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên:

Quyết định kháng nghị số 109/QĐ-VKS-DS ngày 11/6/2024 của Viển kiểm sát nhân dân tỉnh T xác định bản án dân sự sơ thẩm không tính công sức duy trì, tôn tạo tài sản cho người quản lý di sản; chia thừa kế cho các kỷ phần bằng hiện vật (QSD đất) nhưng không đều, giá trị không bằng nhau; xác định không đúng diện tích đất là di sản thừa kế; chia các thửa đất cho các kỷ phần không có mốc giới; không xác định diện tích, mốc giới đường đi chung vào các thửa đất đã chia; xác định giá trị đất là di sản không đúng theo giá các loại đất, dẫn đến tính án phí không đúng; cấp sơ thẩm không giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với thửa đất 982. Những nội dung của kháng nghị nêu là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận, với những phân tích nêu trên cho thấy cấp sơ thẩm đã có thiếu sót trong việc giải quyết vụ án, tuy nhiên tại cấp phúc thẩm có thể khắc phục được, thực tế Toà án đã thẩm định, định giá bổ sung và giải quyết những thiếu sót của cấp sơ thẩm, hơn nữa vụ án đã có thời gian dài giải quyết tại cấp sơn thẩm, nếu huỷ bản án để giải quyết lại cũng không làm thay đổi bản chất vụ án mà chỉ thêm kéo dài thời gian giải quyết, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thay đổi kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự để sửa bản án.

[4]. Xét kháng cáo của ông Trần Xuân H2 và anh Trần Mạnh T3: Kháng cáo đề nghị Toà án phúc thẩm sửa bản án, xem xét tính công sức duy trì, tôn tạo tài sản cho ông H2, bà O, anh T3, chị N1 và bồi thường giá trị tài sản trên đất tại thửa 983 cho anh T3 là có cơ sở chấp nhận như đã phân tích phần trên. Tại phiên toà anh T3, ông H2 xác định sẽ tự di dời, tháo dỡ tài sản trên đất để trả mặt bằng cho các đồng thừa kế theo quyết định của bản án và không yêu cầu hỗ trợ, bồi thường, do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận nội dung này.

Về GCNQSDĐ số CS 571516, ngày 22/10/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh T3, chị N1 trên cơ sở hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 07/10/2019 giữa ông Trần Xuân H2, bà Đỗ Thị O, chị Trần Thị H7, anh Trần Duy H8 với

12

anh Trần Mạnh T3, chị Đỗ Thị N1, giao dịch này bị vô hiệu do đây là di sản thừa kế, ông H2 không có quyền cho tặng. Việc cấp GCNQSDĐ của Sở T là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt, nên Toà án không huỷ giấy chứng nhận này, đồng nghĩa với việc Toà án sơ thẩm giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Để giải quyết hậu quả, theo Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Toà án nhân dân tối cao thì “Khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp GCNQSDĐ ... Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại GCNQSDĐ phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.”

[5]. Xét kháng cáo của ông Trần Duy L: Kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chia thửa 982 là có cơ sở chấp nhận một phần. Nội dung kháng cáo chia thửa 983 thành 7 phần trong đó chia cho anh T3 01 kỷ phần, không đồng ý chia cho ông H2 được nhận thừa kế quyền sử dụng đất tại thửa 983 là không có cơ sở chấp nhận.

[6]. Về chi phí tố tụng: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện Toà án cấp sơ thẩm có thu chi phí tố tụng cho việc thẩm định, đo vẽ, định giá tài sản với tổng số tiền 18.000.000 đồng, bản án sơ thẩm không giải quyết về nội dung này là thiếu sót. Số tiền tạm ứng ông Trần Duy L đã nộp cấp sơ thẩm đã chi hết, nay cần buộc các đồng thừa kế phải cùng chịu chi phí này và thanh toán cho ông L, cụ thể: 18.000.000 đồng : 7 = 2.571.428,571 đồng (làm tròn 2.571.000 đồng). Cần buộc các đồng thừa kế thanh toán cho ông L mỗi người 2.571.000 đồng.

[7]. Về án phí:

[7.1]. Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí chia thừa kế theo giá ngạch phần giá trị kỷ phần được chia. Tuy nhiên, ông H, ông L, bà H1, bà K, ông H2 (tính đến ngày xét xử phúc thẩm đều đã trên 60 tuổi) là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm về chia thừa kế cho các đương sự thuộc đối tượng là người cao tuổi. Ông S, bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với giá trị kỷ phần thừa kế được hưởng là 6.445.400 đồng.

Phần án phí trích chia công sức duy trì bảo quản di sản, do ông H2, bà O đều là người cao tuổi nên được miễn án phí. Anh T3, chị N1 mỗi người phải chịu án phí có giá ngạch trên giá trị tài sản được hưởng là 1.401.500 đồng.

[7.2]. Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông H2 và anh T3 được chấp nhận, kháng cáo của ông L được chấp nhận một phần nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, anh T3 được hoàn trả số tiền đã nộp tạm ứng.

[8]. Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông L về việc đề nghị chia giá trị các thửa đất 982, 787 cho 7 kỷ phần và giao quyền sử dụng đất cho ông H2 là có cơ sở chấp nhận, việc đề nghị chia thửa đất 983 bằng hiện vật cho 7 kỷ phần mà không xem xét tính công sức duy trì, tôn tạo tài sản cho gia đình ông H2 là thiếu cơ sở không được chấp nhận. Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho phía bị đơn về tính công sức duy trì, tôn tạo tài sản cho gia đình ông H2 là có cơ sở chấp nhận.

13

[9]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; chấp nhận kháng cáo của ông Trần Xuân H2 và kháng cáo của anh Trần Mạnh T3; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Duy L. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DSST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên như sau:

Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 74, các Điều 147, 148, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 259 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 634, 635, 674, 676, 683, 685 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 23, 130, 131, 133, 357, 609, 612, 613, 618, 649, 650, 651 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Người cao tuổi; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Ngọc H3 để lại là quyền sử dụng 520m² đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, bằng 1/2 diện tích của thửa đất số 982 tờ bản đồ địa chính số H, phường Đ, thành phố P có giá trị là 41.040.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng). Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Thị L2 và cụ Trần Ngọc H3 là quyền sử dụng 967,2m² đất nông nghiệp trồng cây hàng năm tại thửa 787 và 1.736,5m² (trong đó có 1.200m² đất thổ cư và 535,5m² đất nông nghiệp trồng cây hàng năm) tại thửa 983 cùng tờ bản đồ địa chính số H, phường Đ, thành phố P.
    1. Chia thừa kế bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thửa 787 và 1/2 thửa 982 như sau: Giao cho ông Trần Xuân H2 giá trị thửa đất 982 đã chuyển nhượng cho ông T4 (trong đó có 1/2 giá trị thửa đất là di sản của cụ H3) và quyền sử dụng thửa đất 787, tổng giá trị là 117.488.800 đồng. Buộc ông Trần Xuân H2 trích chia, thanh toán cho ông Trần Duy H, ông Trần Duy L, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị Hồng K, ông Trần Duy S và bà Trần Thị T2 mỗi kỷ phần số tiền là 16.784.000 đồng (Mười sáu triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn đồng). Chị T, anh P và anh D kế thừa quyền và nghĩa vụ, được hưởng phần thừa kế này của ông H. Phần của ông H2 được hưởng bằng một kỷ phần có giá trị là 16.784.000 đồng.
    2. Chia thừa kế tại thửa 983 (Kèm theo sơ đồ phân chia thửa đất do Công ty cổ phần T8 và Xây dựng số 6 đo vẽ kèm theo biên bản thẩm định ngày 07/3/2025):
    3. Trích 248m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm để làm đường đi chung có vị trí được đánh số mốc giới từ các điểm 39-30-31-33-34-35-36-37-38-1-39. Diện tích còn lại là 1.488,5m² (trong đó có 1.200m² đất thổ cư, 288,5m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm).

      Trích công sức duy trì, bảo quản di sản: Giao cho ông Trần Xuân H2, bà Đỗ Thị O, anh Trần Mạnh T3 và chị Đỗ Thị N1 được quyền sử dụng diện tích 149,5m² đất thổ cư tại vị trí 1 được đánh số mốc giới từ 6-8-9-43-42-6, trị giá 112.125.000 đồng. Giá trị mỗi người được hưởng là 28.031.250 đồng.

      - Chia cho ông Trần Xuân H2 được sử dụng 149,5m² đất thổ cư tại vị trí số 2 được đánh số mốc giới từ 42-43-11-12-44-45-41-5-42.

14

  1. - Chia cho ông Trần Duy H được sử dụng diện tích 149,5m² đất thổ cư tại trí số 3 được đánh số mốc giới từ 41-45-46-40-41. Chị T, anh P và anh D kế thừa quyền và nghĩa vụ được hưởng phần thừa kế này của ông H.
  2. - Chia cho ông Trần Duy L được sử dụng diện tích 149,6m² đất thổ cư tại vị trí số 4 được đánh số mốc giới từ 40-46-47-39-40.
  3. - Chia cho bà Trần Thị H1 được sử dụng diện tích 216,4m² trong đó có 150m² đất thổ cư và 66,4m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm tại vị trí số 5 được đánh số mốc giới từ 47-44-12-13-48-47.
  4. - Chia cho bà Trần Thị Hồng K được sử dụng diện tích 216,5m² trong đó có 150m² đất thổ cư và 66,5m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm tại vị trí số 6 được đánh số mốc giới từ 48-13-14-15-16-17-49-48.
  5. - Chia cho ông Trần Duy S được sử dụng diện tích 216,4m² trong đó có 150m² đất thổ cư và 66,4m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm tại vị trí số 7 được đánh số mốc giới từ 49-17-18-50-49.
  6. - Chia cho bà Trần Thị T2 được sử dụng diện tích 241,1m² trong đó có 151,9m² đất thổ cư và 89,2m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm tại vị trí số 8 được đánh số mốc giới từ 50-18-19-36-37-26-27-28-29-30-50.
  1. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa 983, tờ bản đồ số 8 thuộc tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên lập ngày 07/10/2019 giữa ông Trần Xuân H2, bà Đỗ Thị O, chị Trần Thị H7, anh Trần Duy H8 với anh Trần Mạnh T3, chị Đỗ Thị N1 vô hiệu. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án của Tòa án để điều chỉnh biến động phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
  2. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Mạnh T3 về việc tự tháo rỡ, di dời công trình xây dựng, thu hoạch cây cối hoa màu thuộc sở hữu của anh T3, chị N1 đã được thẩm định, định giá để trả mặt bằng đất đã chia cho các đồng thừa kế và không yêu cầu hỗ trợ, bồi thường.
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông H, ông H2, bà K, bà H1, ông S, bà T2, mỗi người phải trả cho ông L 2.571.000 đồng (Hai triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Phần nghĩa vụ của ông H do chị T, anh P, anh D liên đới thanh toán.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Về án phí chia thừa kế: Miễn án phí cho ông H, ông L, ông H2, bà H1, bà K. Ông S và bà T2 mỗi người phải chịu 6.445.400 đồng (Sáu triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm đồng) sung ngân sách nhà nước.
    2. Về án phí trích chia công sức duy trì, bảo quản di sản: Miễn án phí cho ông H2, bà O. Anh T3, chị N1 mỗi người phải chịu 1.401.500 đồng (Một triệu bốn trăm linh một nghìn năm trăm đồng) sung ngân sách nhà nước.
  5. Án phí phúc thẩm: Ông H2, anh T3, ông L không phải chịu, anh T3 được trả lại số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001659 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy

15

định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TP Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP Phổ Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Thắng

16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/DSPT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 61/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông H kiện ông H2 về tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger