TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/DS-ST Ngày: 25-03-2025 V/v “Tranh chấp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trương Thanh Long;
- Ông Nguyễn Văn Hơn.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 394/2024/TLST - DS ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Bà Trần Thị T, sinh năm 1961 và ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1958; Nơi cư trú: 482/3 ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T là ông Nguyễn Văn Q (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 10/03/2025). Có mặt
* Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 6 ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn trình bày:
Vào khoảng năm 2019 đến năm 2020 ông, bà làm chủ hụi, có mở nhiều dây hụi; còn bà Nguyễn Thị Trúc L là hụi viên, có tham gia ba dây hụi cụ thể như sau:
- Dây hụi mệnh giá 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 25/03/2019 (âm lịch), gồm 26 phần, bà L tham gia 1 phần, ngày mãn hụi là ngày 25/05/2020 âm lịch. Bà L hốt hụi vào ngày 25/03/2019 được 40.000.000 đồng, sau khi trừ tiền đầu thảo 1.000.000 đồng, còn lại 39.000.000 đồng đã giao đầy đủ cho bà L. Sau khi hốt hụi, bà L đóng lại hụi chết được 14 tháng, còn 12 tháng chưa đóng. Số tiền bà L còn nợ dây hụi này là 24.000.000 đồng.
- Dây hụi mệnh giá 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 20/04/2019 (âm lịch), gồm 26 phần, bà L tham gia 1 phần, ngày mãn hụi là ngày 20/05/2022 âm lịch. Bà L hốt hụi vào ngày 20/05/2019, sau khi trừ tiền đầu thảo 1.000.000 đồng, còn 39.400.000 đồng đã giao đầy đủ cho bà L. Sau khi hốt hụi, bà L không đóng lại hụi chết 24 tháng. Số tiền bà L còn nợ dây hụi này là 48.000.000 đồng.
- Dây hụi mệnh giá 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 15/04/2020 (âm lịch), gồm 26 phần, bà L tham gia 1 phần, ngày mãn hụi là ngày 15/05/2022 âm lịch. Bà L hốt hụi vào ngày 15/05/2020, sau khi trừ tiền đầu thảo 1.000.000 đồng, còn 39.400.000 đồng đã giao đầy đủ cho bà L. Sau khi hốt hụi, bà L không đóng lại hụi chết 24 tháng. Số tiền bà L còn nợ dây hụi này là 48.000.000 đồng.
Tổng cộng bà L còn nợ của ông bà số tiền của ba dây hụi nêu trên là 120.000.000 đồng. Mặc dù ông bà đã nhiều lần yêu cầu bà L trả tiền nợ hụi nhưng bà L không thực hiện. Vì vậy nay ông bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Trúc L phải có nghĩa vụ trả cho ông, bà số tiền hụi còn nợ là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Tại văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị trúc L trình bày:
Bà thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà Trần Thị T làm chủ hụi từ năm 2021, bao nhiêu dây hụi bà không nhớ, bà chỉ nhớ tổng cộng số tiền hụi chết bà chưa đóng cho bà T là 86.000.000đ (T1 mươi sáu triệu đồng). Nay bà chỉ đồng ý trả cho bà T, ông Q số tiền 86.000.000đ (T1 mươi sáu triệu đồng) chứ không phải 120.000.000 đồng theo như bà T, ông Q yêu cầu.
Đối với giấy nợ “Ly thiếu tiền hụi” 120.000.000 đồng thì đúng là do bà ký nhưng do bà không biết chữ nên khi chồng bà T là ông Q đưa cho bà thì bà ký. Khi đưa tờ giấy này bà có chép qua giấy tập rồi ký. Bà xác định chỉ nợ bà T có 86.000.000 đồng chứ không phải 120.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hụi” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy việc bà T, ông Q1 làm chủ hụi, còn bà L là hụi viên, bà L có tham gia chơi hụi do bà T, ông Q1 làm chủ hụi là có thật, được cả hai thừa nhận.
Theo nguyên đơn, bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc L còn nợ nguyên đơn số tiền hụi chết chưa đóng của ba dây hụi là 120.000.000 đồng. Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tờ giấy viết tay ghi “L thiếu tiền H” với số tiền là 120.000.000 đồng. Bị đơn bà L thừa nhận tờ giấy viết tay này là do ông Q đưa cho bà ký và chữ ký đúng là của bà.
Như vậy, có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị Trúc L có nợ của bà T, ông Q số tiền hụi là 120.000.000 đồng. Việc bà L không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền này cho bà T, ông Q là vi phạm nghĩa vụ của thành viên tham gia chơi hụi (họ) theo quy định tại Điều 16 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về Họ, hụi, bêu, phường. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T, ông Q là có căn cứ nên được HĐXX xem xét chấp nhận, buộc bà Nguyễn Thị Trúc L phải có nghĩa vụ trả cho bà T, ông Q số tiền hụi còn nợ là 120.000.000đồng.
Đối với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Trúc L cho rằng bà chỉ còn nợ số tiền hụi là 86.000.000 đồng; còn việc bà ký tên trong tờ “Ly thiếu tiền Hụi” là do bà không biết chữ nên khi chồng bà T là ông Q đưa cho bà thì bà ký là không có cơ sở để xem xét nên lời trình bày của bà không được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.000.000đồng. Do yêu cầu khởi kiện của bà T, ông Q được chấp nhận nên bà L phải có nghĩa vụ chịu số tiền án phí này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 471, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 15, 16, 21, 23, 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về Họ, hụi, bêu, phường;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn Q đối với bà Nguyễn Thị Trúc L về việc “Tranh chấp hụi”.
Buộc bà Nguyễn Thị Trúc L phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn Q số tiền hụi còn nợ là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Trúc L phải có nghĩa vụ chịu số tiền án phí là 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc L vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ LÊ CHÍ HẬU |
Bản án số 61/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hụi
- Số bản án: 61/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Th yêu cầu bà L trả tiền hụi
